Tổng quan nghiên cứu

Thị trường du lịch sinh thái toàn cầu ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ 10% đến 30% mỗi năm, vượt trội so với mức tăng bình quân khoảng 4% của du lịch truyền thống. Tại Việt Nam, xu hướng tìm về thiên nhiên hoang sơ và văn hóa bản địa đang trở thành hướng đi chiến lược trong quy hoạch kinh tế vùng. Nằm cách trung tâm thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km theo tuyến tỉnh lộ 616, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam sở hữu tổng diện tích tự nhiên 82.305 ha với cảnh quan rừng núi trù phú cùng mệnh danh vùng đất cao sơn ngọc quế. Dù sở hữu nguồn tài nguyên sinh thái và văn hóa phong phú, Bắc Trà My vẫn là một huyện miền núi khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 52,78%, đời sống nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào canh tác nông lâm nghiệp nhỏ lẻ.

Sự hình thành của công trình Thủy điện Sông Tranh 2 với diện tích lưu vực rộng lớn 1.100 km2 và diện tích mặt hồ ứng với mực nước dâng bình thường đạt 21,52 km2 đã tạo ra điểm nhấn cảnh quan độc đáo, giao thoa giữa thiên nhiên hùng vĩ và công trình hiện đại. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương vẫn mang tính tự phát, manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng, phân tích nguồn lực tự nhiên và nhân văn, từ đó định hình chiến lược phát triển du lịch sinh thái chuyên nghiệp.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở dữ liệu thực địa, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển du lịch tại lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 và các vùng phụ cận. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 13 đơn vị xã, thị trấn của huyện, tập trung trọng điểm tại các xã Trà Tân, Trà Đốc, Trà Bui và Trà Giác trong giai đoạn khảo sát năm 2012 đến năm 2016. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học giúp địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm phi nông nghiệp cho hơn 20 thành phần dân tộc anh em, góp phần giảm tỷ lệ nghèo bền vững và nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên rừng đầu nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và hệ sinh thái du lịch có trách nhiệm, được chuẩn hóa từ định nghĩa của Hector Ceballos-Lascurain (1987) và Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES, 1991). Theo đó, du lịch sinh thái được xác định là loại hình du lịch lữ hành có trách nhiệm đến các vùng thiên nhiên còn tương đối hoang sơ, gắn liền với mục tiêu bảo tồn môi trường sinh thái và mang lại phúc lợi kinh tế cho cộng đồng cư dân bản địa. Công trình cũng kế thừa định hướng từ Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam (1999) và Tuyên ngôn Quebec (UNEP/WTO, 2002) với 5 tiêu chí cốt lõi: sản phẩm dựa vào tự nhiên, quản lý tác động tối thiểu, gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và hỗ trợ phát triển cộng đồng.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa 3 trụ cột: Môi trường tự nhiên - Kinh tế du lịch - Xã hội nhân văn. Các khái niệm chính bao gồm: sức chứa sinh thái của lòng hồ thủy điện, du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism), tài nguyên du lịch đặc thù vùng sơn cước và tính bền vững cảnh quan nhân tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, kết hợp giữa số liệu thứ cấp từ các văn bản pháp lý, quyết định của Chính phủ như Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2003, Quyết định số 648/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2011, cùng các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Trà My và Phòng Văn hóa - Thông tin địa phương.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Tác giả đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc với cỡ mẫu đại diện tại 2 xã trọng điểm Trà Tân và Trà Đốc, khảo sát trực tiếp các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, các già làng, trưởng bản và đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phỏng vấn ngẫu nhiên là nhằm nắm bắt sâu sắc nhu cầu sinh kế, tập quán văn hóa và mức độ sẵn sàng tham gia hoạt động du lịch của đồng bào dân tộc thiểu số bản xứ.

Song song đó, phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến kết hợp thang chấm điểm tài nguyên được triển khai dọc theo chiều dài 20 km của sông Tranh và các thắng cảnh lân cận như Thác Bà Nô, Thác Năm Tầng, Hố Nai. Dữ liệu địa không gian được phân tích và số hóa bằng phần mềm chuyên dụng MapInfo để xây dựng sơ đồ các tuyến, điểm tham quan du lịch sinh thái. Toàn bộ quy trình điều tra, xử lý ma trận SWOT và hoàn thiện luận văn được tiến hành đồng bộ từ năm 2012 đến tháng 4 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên mặt nước và cảnh quan lòng hồ Thủy điện Sông Tranh 2 mang quy mô ấn tượng với diện tích lưu vực 1.100 km2 và mặt nước rộng 21,52 km2 khi tích nước bình thường. Dọc theo hơn 10 km bờ hồ là hệ thống vách đá, đảo nổi và những cánh rừng tự nhiên bao bọc. Đặc biệt, hiện nay trên lòng hồ đã hình thành gần 100 lồng bè nuôi cá các loại của người dân địa phương, tạo tiền đề thuận lợi để lồng ghép mô hình du lịch trải nghiệm sông nước, câu cá và thưởng thức ẩm thực bản địa.

Thứ hai, cơ cấu thổ nhưỡng và địa hình tạo nên tính đa dạng sinh thái cao. Đất vàng trên đá macma axit chiếm tỷ trọng lớn nhất với 54,89% (tương đương 45.174 ha), kế tiếp là đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chiếm 40,3% (33.500 ha). Địa hình phân hóa mạnh từ vùng núi cao 300 - 700 m ở phía Nam (chiếm 35% diện tích) đến gò đồi 200 - 500 m (chiếm 40% diện tích), tạo ra các thắng cảnh kỳ thú như núi Hòn Bà, đỉnh Ngọc Linh và các thác nước tự nhiên như Thác Bà Nô, Thác Ồ Ồ. Khí hậu có nền nhiệt trung bình năm 24,7°C và độ ẩm 88%, là điều kiện lý tưởng cho các hoạt động dã ngoại ngoài trời.

Thứ ba, sự phong phú vượt trội về văn hóa cộng đồng với 20 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh chiếm 49,03%, người Cadong chiếm 35,91%, người Cor chiếm 11,25%, người Mơ Nông chiếm 1,84%, người Xê Đăng chiếm 0,29% và các nhóm dân tộc thiểu số khác chiếm 1,68%. Bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào bản địa được duy trì nguyên vẹn qua Lễ hội đâm trâu Huê, Lễ mừng lúa mới, nghệ thuật cồng chiêng và nghi lễ dựng cây Nêu, bộ Gu của người Cor đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Thứ tư, nguồn lực du lịch lịch sử - văn hóa tập trung tại Quần thể di tích Nước Oa theo Quyết định số 648/QĐ-TTg, bao gồm 9 điểm di tích (2 di tích gốc gồm Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Khu 5 và 7 di tích thành phần tôn tạo) cùng Di tích cấp quốc gia Đồn Trà Đốc. Đây là trung tâm đón tiếp hàng nghìn lượt khách về nguồn mỗi năm, đóng vai trò hạt nhân kết nối chuỗi điểm đến của huyện.

Thảo luận kết quả

Kết quả khảo sát phản ánh rõ nét sự tương phản giữa tiềm năng tài nguyên du lịch dồi dào và thực trạng phát triển còn ở mức sơ khai. Hoạt động du lịch sinh thái tại lòng hồ Sông Tranh 2 vẫn chỉ dừng lại ở các chuyến picnic, dã ngoại tự phát của các nhóm du khách trẻ, chưa hình thành sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao. Các dữ liệu về cơ cấu dân tộc, phân bổ quỹ đất nông lâm nghiệp và số lượng di tích lịch sử có thể được biểu diễn một cách trực quan qua biểu đồ cơ cấu dân cư và bảng phân tích ma trận SWOT để làm rõ sự phân hóa tiềm năng giữa các tiểu vùng.

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu vắng quy hoạch tổng thể và sự phối hợp liên ngành giữa cấp tỉnh, huyện và ngành điện lực chưa đồng bộ. Hạ tầng giao thông kết nối từ trục đường Quốc lộ 40B vào các điểm di tích và bến thủy nội địa còn gặp nhiều trở ngại. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư tôn tạo di tích chưa đáp ứng được lộ trình phê duyệt, một số hạng mục như di tích Hội Nông dân đã có dấu hiệu xuống cấp.

So sánh với các nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành về du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Ba Bể hay Khu bảo tồn thiên nhiên Cát Tiên, mô hình lòng hồ thủy điện Bắc Trà My có lợi thế đặc thù về sự kết hợp giữa mặt nước nhân tạo và văn hóa tộc người bản địa. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế quản lý sức chứa và chiến lược trao quyền kinh tế cho cộng đồng cư dân tại chỗ, hoạt động du lịch sẽ khó đạt được tính bền vững, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ làm suy thoái tài nguyên rừng và ô nhiễm nguồn nước mặt lưu vực sông Tranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đánh thức tiềm năng và xây dựng thương hiệu du lịch sinh thái bền vững cho khu vực lòng hồ Thủy điện Sông Tranh 2, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, quy hoạch không gian và đầu tư hạ tầng đồng bộ. Ủy ban nhân dân huyện Bắc Trà My cần phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam tiến hành cắm mốc quy hoạch chi tiết vùng lòng hồ 21,52 km2; xây dựng hệ thống bến thuyền đạt chuẩn an toàn đường thủy tại xã Trà Tân và Trà Đốc; nâng cấp tuyến giao thông kết nối các trục đường Đông Trường Sơn và đường Nam Quảng Nam. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lưu trú của du khách đạt mức tăng trưởng 20% đến 25% mỗi năm trong giai đoạn 2016-2020.

Thứ hai, đa dạng hóa và chuẩn hóa các sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù. Doanh nghiệp lữ hành liên kết với Ban Quản lý Di tích Nước Oa triển khai 3 dòng sản phẩm trọng tâm: Tuyến du thuyền thưởng ngoạn lòng hồ gắn với trải nghiệm 100 lồng bè cá; Tuyến du lịch về nguồn tri ân lịch sử tại 9 điểm di tích Nước Oa; Tuyến du lịch dã ngoại, mạo hiểm khám phá Thác Bà Nô và Hố Nai. Chủ thể thực hiện là các đơn vị lữ hành kết hợp với Công ty Thủy điện Sông Tranh 2 trong việc kiểm soát hành lang an toàn vận hành đập.

Thứ ba, phát triển du lịch cộng đồng gắn liền với xóa đói giảm nghèo. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng du lịch cộng đồng, hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các hộ dân tộc Cadong, Cor tại xã Trà Tân và Trà Bui để phục dựng mô hình nhà sàn truyền thống làm dịch vụ homestay. Phấn đấu đến năm 2022 thu hút ít nhất 30% lao động địa phương tại các xã vùng lòng hồ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch.

Thứ tư, kiểm soát nghiêm ngặt tác động môi trường và an toàn địa chất. Hạt Kiểm lâm Bắc Trà My phối hợp với chính quyền 13 xã, thị trấn tăng cường tuần tra, nghiêm cấm khai thác lâm sản trái phép trên diện tích 82.305 ha của huyện; xây dựng hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt nổi trên mặt hồ; định kỳ theo dõi các thông số môi trường nước và hiện tượng địa chấn kích thích nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho du khách giai đoạn 2016-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý, hoạch định chính sách thuộc Ủy ban nhân dân huyện Bắc Trà My và các cơ quan quản lý du lịch tỉnh Quảng Nam. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về điều kiện tự nhiên, quỹ đất, hạ tầng và dân sinh để xây dựng đề án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái gắn với mục tiêu giảm nghèo cho tỷ lệ 52,78% hộ dân khó khăn trên địa bàn.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, đầu tư du lịch sinh thái. Doanh nghiệp có thể khai thác các thông tin khảo sát thực địa chi tiết về 9 điểm di tích Nước Oa, hệ thống lòng hồ 21,52 km2 và mô hình nuôi cá lồng bè để thiết kế các tour trải nghiệm mới lạ, kết nối không gian du lịch từ Hội An, Mỹ Sơn lên vùng sơn cước phía Tây Quảng Nam.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên môi trường, Địa lý du lịch và Phát triển nông thôn. Luận văn là case study điển hình về việc ứng dụng công cụ PRA, ma trận SWOT và phần mềm MapInfo trong đánh giá tài nguyên sinh thái vùng hồ chứa thủy điện.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý dự án bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp góc nhìn thực tiễn về việc lồng ghép sinh kế cộng đồng của hơn 20 thành phần dân tộc bản địa với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng tự nhiên và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Câu hỏi thường gặp

Lòng hồ Thủy điện Sông Tranh 2 có những lợi thế khác biệt nào để phát triển du lịch sinh thái? Khu vực lòng hồ sở hữu diện tích mặt nước rộng tới 21,52 km2 cùng cảnh quan vách đá, đảo nổi và gần 100 cụm lồng bè nuôi cá bao bọc bởi rừng nguyên sinh. Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển các loại hình du thuyền, câu cá dã ngoại, chèo thuyền thể thao kết hợp thưởng thức ẩm thực thủy sản tươi sống tại chỗ.

Bản sắc văn hóa của 20 dân tộc bản địa tại Bắc Trà My được khai thác như thế nào trong chuỗi sản phẩm du lịch? Bản sắc văn hóa đặc trưng của các dân tộc Cadong (chiếm 35,91%) và Cor (chiếm 11,25%) với nghệ thuật cồng chiêng, Lễ hội mừng lúa mới và di sản dựng cây Nêu, bộ Gu được đưa vào phục vụ du khách tại các bản làng homestay và Quảng trường văn hóa huyện, tạo điểm nhấn trải nghiệm chân thực.

Những rào cản lớn nhất đối với hạ tầng du lịch Bắc Trà My trong giai đoạn nghiên cứu là gì? Huyện cách xa trung tâm tỉnh 50 km, địa hình núi cao chia cắt mạnh khiến mạng lưới giao thông liên xã còn khó khăn. Thêm vào đó, việc đầu tư tôn tạo tại Quần thể di tích lịch sử Nước Oa theo Quyết định 648/QĐ-TTg còn thiếu đồng bộ, cơ sở lưu trú và bến thuyền phục vụ du lịch sinh thái chưa được xây dựng hoàn chỉnh.

Quần thể di tích Nước Oa đóng vai trò gì trong định hướng phát triển du lịch toàn huyện? Đây là quần thể di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia gồm 9 điểm di tích lịch sử Khu ủy Khu 5. Khu vực này đóng vai trò hạt nhân văn hóa - lịch sử, thu hút hàng nghìn lượt du khách về nguồn hàng năm, tạo động lực liên kết với các tour du lịch sinh thái lòng hồ lân cận.

Làm thế nào để dung hòa giữa khai thác du lịch lòng hồ và bảo vệ môi trường sinh thái rừng đầu nguồn? Địa phương cần thiết lập quy chế kiểm soát sức chứa du lịch, nghiêm cấm xả rác trực tiếp xuống lưu vực 1.100 km2 của hồ, gắn quyền lợi khai thác dịch vụ của người dân với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ và giám sát chặt chẽ các chỉ số an toàn đập theo định kỳ.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định huyện Bắc Trà My nắm giữ nguồn tài nguyên du lịch sinh thái và văn hóa lịch sử vô cùng to lớn với tổng diện tích 82.305 ha, tâm điểm là lòng hồ Thủy điện Sông Tranh 2 rộng 21,52 km2 và Quần thể di tích quốc gia Nước Oa. Sự hòa quyện giữa cảnh quan sơn thủy hữu tình, hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên đất macma axit phong phú và kho tàng di sản phi vật thể của 20 dân tộc anh em tạo nền tảng vững chắc để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, có tính cạnh tranh cao. Mặc dù thực trạng khai thác còn mang tính tự phát và đối mặt với rào cản từ tỷ lệ hộ nghèo 52,78%, việc áp dụng các giải pháp quy hoạch không gian, phát triển du lịch cộng đồng và hoàn thiện hạ tầng sẽ mở ra bước đột phá mới cho địa phương. Đóng góp cốt lõi của đề tài là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học thực chứng, số hóa bản đồ phân bố tuyến điểm du lịch, định hình rõ nét khung hành động giai đoạn 2016-2025 gắn phát triển kinh tế với bảo tồn sinh thái rừng. Các cơ quan quản lý và nhà đầu tư cần sớm hiện thực hóa các định hướng quy hoạch, đưa vùng đất cao sơn ngọc quế Bắc Trà My trở thành điểm đến sinh thái - lịch sử tiêu biểu của tỉnh Quảng Nam.