Chương 1 Bảng 1. Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp 45 Bảng 1. Bốn nhóm của tiêu chí về phát triển du lịch 51 Bảng 1.2 bền vững Bảng 1. Các tiêu chí về phát triển bền vững về kinh tế, 52 Bảng 1.3 văn hóa – xã hội và môi trường Dân số các tộc người theo địa phương Tây sông Hậu 84 Bảng 1.4 năm 2019 Chương 2 Bảng 2.1 Một số chương trình du lịch ở khu vực Tây sông Hậu 88 Bảng 2.2 Thống kê cơ sở lưu trú ở khu vực Tây sông Hậu 90 Bảng 2.3 Thống kê du khách ở khu vực Tây sông Hậu 94 Bảng 2.4 Thống kê di tích được xếp hạng ở khu vực Tây sông Hậu 95 Bảng 2.5 Mạng lưới giao thông nội vùng Tây sông Hậu 100 Bảng 2.6 Các tôn giáo chính ở khu vực Tây sông Hậu 105 Bảng 2.7 Quản lý tài nguyên du lịch văn hóa ở Tây sông Hậu 109 Bảng 2.8 Nhân lực du lịch ở khu vực Tây sông Hậu 112 Bảng 2.9 Thống kê cơ sở Phật giáo ở khu vực Tây sông Hậu 126 Bảng 2.10 Thống kê lễ hội dân gian ở khu vực Tây sông Hậu 128 Bảng 2.11 Doanh thu du lịch ở địa phương Tây sông Hậu năm 2022 141 vii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Tiếng Anh Nghĩa The European Association Hiệp hội Du lịch và Giải 1 ATLAS for Tourism and Leisure trí Giáo dục châu Âu Education and Research 2 BBPV Interview report Biên bản phỏng vấn Don ca Tai tu Music and Câu lạc bộ Đờn ca tài tử 3 CLB ĐCTT Song’ Club 4 DSVH Cultural heritage Di sản văn hóa International Council on Hội đồng Quốc tế Di 5 ICOMOS Monuments and Sites tích và Di chỉ International Union for Liên minh Quốc tế Bảo 6 IUCN Conservation of Nature tồn Thiên nhiên 7 KTNT Art architecture Kiến trúc nghệ thuật Agriculture and rural Nông nghiệp và phát 8 NNPTNT development triển nông thôn Organisation for Economic Tổ chức Hợp tác và Phát 9 OECD Co-operation and triển Kinh tế Development Pacific Asia Travel Hiệp hội Du lịch châu Á 10 PATA Association Thái Bình Dương TP.
City Thành phố 11 TX. District Quận / Huyện 12 TP. HCM Ho Chi Minh city Thành phố Hồ Chí Minh 13 UBND People’s Committee Ủy ban nhân dân United Nations Chương trình Môi 14 UNEP Environmental Program trường Liên Hiệp Quốc viii United Nations Educational, Tổ chức Giáo dục, Khoa 15 UNESCO Scientific and Cultural học và Văn hóa của Liên Organization Hợp Quốc United Nations World Tổ chức Du lịch Thế 16 UNWTO Tourism Organization giới 17 VQG National park Vườn Quốc gia World Commission on Ủy ban Thế giới về Môi 18 WCED Environment and trường và Phát triển Development World Tourism and Travel Hội đồng Du lịch và Lữ 19 WTTC Council hành Thế giới 1 DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài Khu vực Tây sông Hậu là vùng đất nằm về phía hữu ngạn sông Hậu với các dạng môi sinh khác nhau như đồng bằng, đồi núi thấp, duyên hải, biển đảo.
Các tộc người Việt - Khmer - Hoa - Chăm và một ít tộc người khác định cư trên vùng đất Tây sông Hậu từ khá sớm và có quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với nhau để tạo một diện mạo văn hóa riêng với sắc thái văn hóa truyền thống kết hợp yếu tố bản địa và khu vực. Đó là cảnh quan văn hóa của đồng bằng và biển đảo, tiêu biểu là đất mũi Cà Mau - nơi vừa tiếp giáp biển Đông vừa nối liền biển Tây, Hà Tiên thập cảnh, đảo ngọc Phú Quốc, phong cảnh Bảy Núi, xóm ấp xen lẫn cánh đồng lúa và vườn trái cây, sông nước miệt vườn như chợ nổi trên sông ở Cần Thơ, Long Xuyên, Ngã Năm, hệ sinh thái đặc trưng của rừng ngập mặn ở Kiên Giang – Cà Mau, rừng đước Năm Căn, rừng tràm Trà Sư, những di tích lịch sử văn hóa của cộng đồng địa phương như di sản văn hóa cổ Óc Eo – Phù Nam, lễ hội dân gian truyền thống, nghệ thuật đờn ca tài tử ở Bạc Liêu, văn hóa Khmer ở Sóc Trăng v. Mặt khác, trong quá trình học tập, địa bàn Tứ giác Long Xuyên ở vùng đất Tây sông Hậu đã được tác giả luận án nghiên cứu qua luận văn Thạc sĩ với đề tài “Đời sống cư dân vùng Tứ giác Long Xuyên từ góc nhìn văn hóa học” (2010). Về bản thân, tác giả luận án từng sinh sống và trưởng thành ở vùng đất Thoại Sơn nên quen thuộc với đời sống văn hóa của cư dân và vùng lân cận ở Tứ giác Long Xuyên.
Có thể nói văn hóa giúp định hình bản sắc cộng đồng cư dân Tây sông Hậu để tạo sự khác biệt giữa các điểm đến du lịch. Nay tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu văn hóa khu vực Tây sông Hậu nhằm khai thác các giá trị văn hóa đặc thù của cộng đồng địa phương cho phát triển du lịch theo hướng bền vững trong thời kỳ đương đại. Từ những năm đầu thế kỷ XXI, hoạt động du lịch được quan tâm triển khai ở các địa phương trên vùng đất Tây sông Hậu để đáp ứng sự phát triển của xu hướng du lịch đại chúng. Do vậy, các nguồn tài nguyên du lịch được tập trung khai thác để tạo ra các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách trong giai đoạn hiện nay.
Qua đó, các giá trị văn hóa cũng đang được 2 khai thác một cách triệt để nhằm phục vụ du lịch địa phương. Chính quyền địa phương triển khai kiểm kê di tích lịch sử, di sản văn hóa để góp phần cho phát triển du lịch. Cư dân địa phương tham gia du lịch cộng đồng sử dụng nguồn tài nguyên văn hóa để đáp ứng nhu cầu du khách. Các đơn vị kinh doanh du lịch lữ hành khai thác tài nguyên du lịch văn hóa trong chương trình du lịch, điểm tham quan v.
Tuy nhiên, các bên liên quan vẫn còn thiếu sự liên kết bền vững trong phát triển sản phẩm du lịch từ tài nguyên văn hóa để du khách trải nghiệm văn hóa. Hơn nữa, văn hóa địa phương chưa thật sự phát huy được tính đặc trưng trong phát triển du lịch nên sản phẩm du lịch giữa các địa phương vẫn còn rất đơn điệu, trùng lặp. Mặt khác, nguồn tài nguyên văn hóa chưa được quan tâm đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch nhằm đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Các sản phẩm du lịch chủ yếu là du lịch cộng đồng gắn với trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương, du lịch nông nghiệp, du lịch chợ nổi, du lịch hành hương, tham quan lễ hội v.
chưa đủ sức hấp dẫn lâu dài đối với du khách và tạo thương hiệu du lịch riêng cho khu vực Tây sông Hậu. Trong Kỷ yếu hội thảo “Phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long” tại tỉnh Hậu Giang (2016), Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Thời gian qua, du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa được đầu tư đúng mức và khai thác có hiệu quả. Hơn nữa, do có sự tương đồng về văn hóa, lối sống, cảnh quan thiên nhiên…nên sản phẩm du lịch giữa các địa phương trong vùng đều giống nhau và thực tế cho thấy, khách du lịch chỉ cần đến một tỉnh đã trải nghiệm được tất cả các sản phẩm của vùng, tạo cảm giác nhàm chán cho du khách. Tình hình trên chính là một thực trạng, đồng thời là thách thức cho sự phát triển du lịch bền vững ở khu vực Tây sông Hậu, và là vấn đề cấp thiết cần giải quyết trong định hướng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù ở vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng thời, những cơ sở lý luận cần được bổ khuyết bằng việc tìm kiếm và chắt lọc các lý thuyết bao gồm cách nhìn nhận và phương hướng nhận thức, xử lý các vấn đề thực tiễn là khai thác tài nguyên văn hóa 3 khu vực Tây sông Hậu trong phát triển du lịch một cách bền vững. Đó là lý do thúc đẩy tác giả luận án chọn “Văn hóa khu vực Tây sông Hậu với phát triển du lịch bền vững” làm đề tài cho luận án tiến sĩ văn hóa học. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong phạm vi tư liệu được khái quát, tác giả luận án chia thành ba nội dung chính, gồm (1) nhóm tài liệu chủ yếu gồm tài liệu về văn hóa khu vực Tây sông Hậu, tài liệu về phát triển du lịch bền vững, tài liệu về phát triển du lịch bền vững ở khu vực Tây sông Hậu; (2) nhóm tài liệu bổ trợ gồm tài liệu về văn hóa du lịch, tài liệu về du lịch văn hóa, tài liệu về du lịch văn hóa ở khu vực Tây sông Hậu. * Nhóm tài liệu chủ yếu ** Nhóm tài liệu về văn hóa khu vực Tây sông Hậu Các học giả trong nước từ nhiều chuyên ngành khác nhau đã đề cập môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn khu vực Tây sông Hậu về điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên trong các công trình nghiên cứu địa phương (Tỉnh/Thành phố), Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) và Nam Bộ.
Quyển Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long: Hiện trạng và giải pháp của Đào Công Tiến (2001) có nói đặc điểm về tự nhiên, lũ lụt, các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp ở vùng đất Tây sông Hậu vào thập niên cuối thế kỷ XX. Sách Đồng bằng sông Cửu Long - lịch sử và lũ lụt của Phan Khánh (2001) khái quát về điều kiện tự nhiên và mô tả hệ thống thủy lợi. Công trình Những vấn đề về đất phèn Nam Bộ của Lê Huy Bá (2003) trình bày về đất phèn và sơ lược điều kiện tự nhiên ở vùng tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau. Sách Nam Bộ 300 năm làm thủy lợi của Phan Khánh (2004) nêu khái quát về hệ thống kinh rạch, lũ lụt, khai hoang mở đất, đào kênh qua các thời kỳ (từ triều Nguyễn đến năm 2003).
Quyển Đê bao vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long của Trần Như Hối (2005) nói về quy hoạch đê bao, sự tác động đến tài nguyên và môi trường ở các vùng ngập lũ. Quyển Cải tạo đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long của Vương Đình Phước - Phan Khánh (2006) nhắc tới vấn đề ngập lũ, xâm nhập mặn, cải tạo sử dụng tài nguyên đất phèn ở tứ giác Long Xuyên, Bán 4 đảo Cà Mau. Quyển Hồ sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung của Lê Sâm - Nguyễn Văn Lân - Nguyễn Đình Vượng (2007) mô tả phân vùng sinh thái và thực trạng của các hồ sinh thái.