Mở đầu - Phần 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn - Phần 3: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5: Các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Thác Bản Giốc * Kết luận và kiến nghị e ` 6 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản về du lịch và dịch vụ ngành du lịch Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ. Do vậy nó cũng mang những đặc tính chung của dịch vụ.
Sản phẩm ngành du lịch chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dƣới dạng vật thể, không lƣu kho bãi, không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng. Trong những năm gần đây, thế giới đẫ chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên toàn cầu. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế thế giới. Du lịch đã trở thành một hiện tƣợng quen thuộc trong đời sống của con ngƣời và ngày càng phát triển phong phú.1 Khái niệm về du lịch, dịch vụ du lịch.
* Khái niệm du lịch Theo điều 4 khoản 1 Luật Du Lịch Việt Nam (2005) khái niệm: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định. * Khái niệm dịch vụ du lịch Theo định nghĩa của giáo trình kinh tế du lịch thì dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tƣơng tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tƣơng tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ. Ngành du lịch đƣợc định nghĩa theo nghĩa rộng là khu vực kinh tế bao gồm tất cả các ngành phục vụ khách du lịch. Ngành du lịch đƣợc định nghĩa e ` 7 một cách đơn giản là một bộ phận của nền kinh tế, có chung một chức năng đó là phục vụ nhu cầu của khách du lịch.
Do đó ngành công nghiệp này đƣợc định nghĩa gắn liền với thị trƣờng riêng biệt của nó và bao gồm tất cả các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, những ngƣời có nguồn thu từ khách du lịch. * Về khái niệm khách du lịch: Luật Du Lịch Việt Nam định nghĩa ba loại khách du lịch khác nhau: Khách nội địa, khách du lịch nƣớc ngoài và khách nƣớc ngoài đến Việt Nam. Mặc dù phát triển du lịch nội địa là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch, còn khách du lịch từ trong nƣớc ra nƣớc ngoài thể hiện phần mất mát ngoại hối quan trọng mà du lịch thụ động có thể đem lại. - Khách du lịch nội địa là: Công dân Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Khách du lịch nƣớc ngoài đến Việt Nam là: Ngƣời đến từ nƣớc ngoài, những ngƣời đang sống trong một quốc gia đi du lịch nƣớc ngoài, là công dân của một quốc gia và những ngƣời nƣớc ngoài đang sống trên lãnh thổ của một quốc gia đó đi du lịch trong nƣớc. - Khách du lịch nƣớc ngoài: Là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam ra nƣớc ngoài du lịch. Phân loại dịch vụ du lịch. - Xét theo hình thái vật chất Dịch vụ du lịch đƣợc phân thành 2 loại: Dịch vụ du lịch hang hóa (thức ăn, quà lƣu niệm, vận chuyển) và dịch vụ du lịch phi hàng hóa (hƣớng dẫn thăm quan, tổ chức trò chơi, tƣ vấn tiêu dùng).
Trong dịch vụ phi hang hóa, dịch vụ du lịch đƣợc hiểu theo nghĩa thuần túy, không có hình thái vật chất. Dịch vụ du lịch thuần túy thƣờng chiếm từ 2/4 đến 3/4 sản phẩm dịch vụ du lịch. - Xét theo cơ cấu tiêu dùng Dịch vụ du lịch đƣợc chia làm 2 loại: Dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung. e ` 8 Dịch vụ du lịch cơ bản bao gồm: Dịch vụ ăn uống, lƣu trú, và vận chuyển.
Đó là những nhu cầu cơ bản, không thể thiếu đƣợc với khách hàng trong thời gian du lịch. Dịch vụ du lịch bổ sung bao gồm: Thăm quan, giải trí, mua sắm hàng hóa. Đó là những nhu cầu phải có nhƣng không thật cần thiêt lắm so với loại hình du lịch trên, và nó không định lƣợng đƣợc - Xét theo tính chất tham gia vào dịch vụ du lịch - Dịch vụ du lịch chia làm hai dịch vụ trực tiếp và dịch vụ gián tiếp + Dịch vụ trực tiếp là dịch vụ du lịch do đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp làm, ví dụ nhƣ dịch vụ tại các nhà hàng, khu nghỉ biển, bể tắm hơi. + Dịch vụ du lịch gián tiếp là dịch vụ du lịch không do đơn vị kinh doanh du lịch trực tiếp làm, mà chỉ thực hiện chức năng môi giới.
Đơn vị thực hiện dịch vụ gián tiếp là các đại lý du lịch. Tuy không trực tiếp phục vụ khách hàng nhƣng đại lý du lịch đóng vai trò quan trọng nhƣ: Nghiên cứu thị trƣờng du lịch, tổ chức hình thành các sản phẩm du lịch, tuyên truyền, quảng cáo các loại hình du lịch đã hình thành, xác định hiệu quả của tuyên truyền quảng cáo… Trong các công ty du lịch thì trung tâm điều hành hƣớng dẫn du lịch thực hiện nhiệm vụ dịch vụ gián tiếp này. - Xét theo nội dung Dịch vụ du lịch phải thỏa mãn 4 yêu cầu của khách là đi lại, nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống và nghiên cứu. Và tƣơng ứng với 4 yêu cầu này 4 loại dịch vụ phục vụ khách hành.
Và đây là cách phân loại quan trọng nhất, xuất phát từ bản chất của hoạt động du lịch. Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp sử dụng sản phẩm của những ngành khác, nhằm đáp ứng nhu cầu tổng hợp của khách du lịch.3 Đặc điểm của dịch vụ du lịch Dịch vụ du lịch cũng có những đặc điểm chung nhƣ dịch vụ khác: e ` 9 - Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dƣới dạng vật thể. Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thƣờng chiếm 80-90%) về mặt giá trị), hành hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Do vậy việc đánh giá chất lƣợng sản phẩm du lịch rất khó khăn, vì thƣờng mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào ngƣời kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch.
Chất lƣợng sản phẩm du lịch đƣợc xác định dựa vào độ chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lƣợng của khách du lịch. - Tính không thể tách rời: Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho nhƣ các hàng hoá thông thƣờng khác đƣợc. Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn.
Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. - Tính không đồng nhất: Hiệu quả mà dịch vụ đem lại cho khách hàng cao hay thấp không chỉ do bản thân sản phẩm mà còn do sự tham gia của khách hàng vào quá trình tạo thành dịch vụ ấy. Dịch vụ có tính phi tiêu chuẩ n hoá cao, cho nên muốn có dịch vụ tốt cần phải có sự thực hiện tốt cả hai phía ngƣời cung cấp và khách hàng. Ngoài những đặc điểm chung của ngành dịch vụ, dịch vụ du lịch còn có những đặc điể m rất riêng so với các ngành dịch vụ khác: - Sản phẩm du lịch thƣờng đƣợc tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch.
Do vậy, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển đƣợc. Trên thực tế, không thể đƣa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch để thoả mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đặc điểm này của sản phẩm du e ` 10 lịch là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm. - Hoạt động kinh doanh du lịch thƣờng mang tính mùa vụ.
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thƣờng không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩ m của các thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩ m của một số loại hình du lịch nhƣ: Du lịch biển, du lịch nghỉ núi. Sự dao động về thời gian trong tiêu dùng sản phẩ m du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch. Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn, cũng nhƣ về mặt lý luận trong lĩnh vực du lịch. - Dịch vụ du lịch liên quan, sử dụng sản phẩm của rất nhiều ngành khác liên quan nhƣ giao thông vận tải, giải trí, kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
Vì thế vấn đề hợp tác trong dịch vụ du lịch là rất quan trọng. * Các ngành nghề kinh doanh chính trong lĩnh vực dịch vụ du lịch. Theo Điều 38 của Luật Du Lịch ban hành năm 2006 thì kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sau: - Khách sạn và nhà hàng Kinh doanh khách sạn là công đoạn phục vụ khách du lịch để họ hoàn tất chƣơng trình du lịch đã lựa chọn. Thuật ngữ “kinh doanh khách sạn” đƣợc hiểu là “làm nhiệm vụ đón tiếp, phục vụ việc lƣu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, bán hàng cho khách du lịch”.
Vì thế, ngoài hoạt động kinh doanh lƣu trú ra thì trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh này còn có cả các hoạt động kinh doanh khác nhƣ: Ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách du lịch. e ` 11 Hiện nay trên thế giới tất cả các quốc gia đều có khách sạn và kinh doanh khách sạn, đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật, thể thao, du lịch phát triển.