Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Triều đại nhà Trần trị vì suốt 181 năm (1225–1400 và 1407–1413) với 14 đời vua, ghi dấu ấn với 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đưa nền văn minh Đại Việt đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Trong hệ thống gần 2.000 di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Nam Định, các di tích thời Trần giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Vùng đất Tức Mặc - Lộc Vượng xưa kia được phong làm phủ Thiên Trường, có cung điện, dinh thự và đóng vai trò như một "hành đô", kinh đô thứ hai sau Thăng Long. Nổi bật tại đây là cụm di tích lịch sử đền Trần - nơi lưu giữ nhiều công trình kiến trúc cổ và tổ chức nghi lễ khai ấn vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ khai ấn là tập tục mang tính nhân văn, mô phỏng nghi thức mở đầu ngày làm việc của bộ máy triều đình sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Xuất phát từ niềm tự hào quê hương và nhận thức về giá trị nguồn tài nguyên nhân văn to lớn phục vụ phát triển du lịch, tác giả Trần Thị Thanh Dung thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho hoạt động này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Tìm hiểu công tác tổ chức, quản lý và khai thác Lễ khai ấn đền Trần gắn liền với hoạt động du lịch văn hóa.
  2. Đánh giá khách quan những mặt đạt được và những mặt tồn tại, yếu kém trong việc tổ chức lễ hội.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thu hút du khách đến với đền Trần - Nam Định.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tổ chức, quản lý và khai thác Lễ khai ấn tại cụm di tích lịch sử đền Trần. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại cụm di tích đền Trần thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Về mặt thời gian, khóa luận khảo sát thực trạng công tác tổ chức qua các năm 2005–2008 và kế hoạch tổ chức Lễ khai ấn năm Kỷ Sửu (2009).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành du lịch và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Khái niệm du lịch văn hóa: Dẫn chiếu theo Khoản 1, Điều 4, Chương I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, xác định đây là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
  • Phân loại tài nguyên du lịch văn hóa: Hệ thống hóa tài nguyên thành di sản văn hóa vật thể (công trình kiến trúc, di tích lịch sử, di vật, cổ vật) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, tập tục, diễn xướng dân gian, lối sống).
  • Hệ thống văn bản pháp quy: Căn cứ Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị 14/1998/CT-TTg ngày 28/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh; Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy chế tổ chức lễ hội; Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị và Quyết định ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể thành phố Nam Định đến năm 2020; Quyết định số 681/2005/QĐ-UBND ngày 12/03/2005 của UBND tỉnh Nam Định ban hành quy chế lễ hội địa phương.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tổng hợp tài liệu lịch sử, sách Nam Định địa dư chí lược của Khiếu Năng Tĩnh, các văn bản chỉ đạo của chính quyền địa phương và số liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trường cụm di tích, cảnh quan hạ tầng và diễn biến thực tế của lễ hội.
  • Phương pháp khảo tả: Miêu tả chi tiết quy mô kiến trúc, cách bài trí thờ tự và trình tự các bước thực hành nghi lễ.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực tế tình hình tham quan, nhu cầu tâm linh của du khách và sự tham gia của người dân địa phương.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm số liệu thống kê du lịch tỉnh Nam Định giai đoạn 2005–2008, kế hoạch tổ chức Lễ khai ấn năm 2009 của UBND thành phố Nam Định, cùng các văn bia, tư liệu Hán Nôm tại khu di tích.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về Đền Trần và Lễ khai ấn Đền Trần

Chương 1 hệ thống hóa điều kiện phát triển du lịch của Nam Định và giá trị di sản của cụm di tích:

  • Tổng quan địa bàn: Nam Định có diện tích 1650,8 km², gồm 9 huyện và 1 thành phố loại II; mạng lưới giao thông thuận tiện với Quốc lộ 10, Quốc lộ 21, Quốc lộ 21B, tuyến đường sắt Bắc - Nam và 3 tuyến xe buýt nội tỉnh; mật độ sông ngòi từ 0,6–0,9 km/km² với 251 km sông chính và 279 km sông nội đồng. Tỉnh sở hữu 1.655 di tích (562 chùa, 590 đền, 272 đình, 88 miếu, 63 phủ; 74 di tích cấp quốc gia), 40 phố cổ ven sông Đào và hơn 100 lễ hội truyền thống.
  • Cụm di tích lịch sử đền Trần: Được xây dựng trên nền hành cung Tức Mặc (dựng năm 1239, thăng thành Phủ Thiên Trường năm 1262), gồm các hạng mục chính:
    • Đền Thiên Trường (Thượng Miếu): Xây dựng năm 1695 (niên hiệu Chính Hòa thứ 15), tu bổ các năm 1773, 1854, 1895, 1907–1908. Quy mô rộng 5 ha, kiến trúc "nội công ngoại quốc" gồm 9 tòa, 31 gian. Tiền đường gồm 5 gian (dài 13m, rộng 6m), hệ thống 24 cột lim đặt trên chân tảng đá chạm cánh sen thời Trần (12 cột cái đường kính 0,4m). Chính tẩm dài 13,2m, rộng gần 12m, cao 7m. Đây là nơi thờ 14 vị vua Trần.
    • Đền Cố Trạch (Hạ Miếu): Năm 1852 phát hiện tấm bia "Hưng Đạo thân Vương Cố Trạch", khánh thành đền vào năm 1895 (Thành Thái thứ 7), được xếp hạng di tích quốc gia năm 1962 (Quyết định 313). Đền thờ Trần Hưng Đạo, gia quyến và các tướng lĩnh Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa, Phạm Ngô. Điểm nhấn là bộ cánh cửa gỗ chạm khắc liên hoàn các sự kiện lịch sử (Hội nghị Diên Hồng, Bình Than, chiến trận Bạch Đằng, Chương Dương - Hàm Tử).
    • Đền Trùng Hoa: Phục dựng năm 2000 nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội trên nền cung Trùng Hoa cũ, gồm tiền đường 5 gian, kinh đàn, trung đường 5 gian và chính tẩm 3 gian, đặt 14 pho tượng đồng của 14 vị hoàng đế nhà Trần.
    • Chùa Phổ Minh (Chùa Tháp): Khởi dựng thời Lý, mở rộng năm 1262. Tháp Phổ Minh xây năm 1305 (thời Trần Anh Tông) cao 21,2m gồm 14 tầng, đáy rộng 5,2m, trọng lượng khoảng 700 tấn. Chùa còn lưu giữ 96 chân đá hoa sen và quả chuông thời Cảnh Thịnh.
  • Lịch sử và diễn trình Lễ khai ấn: Bắt nguồn từ lệ tế tổ năm 1239, gián đoạn thời chiến và được Thượng hoàng Trần Thánh Tông mở lại năm 1262. Năm 1822, vua Minh Mạng cho khắc lại ấn "Trần miếu điển cố" và câu "Tích phúc vô cương". Diễn trình lễ hội diễn ra từ chiều 14 tháng Giêng với lễ rước kiệu ngọc lộ từ chùa Phổ Minh sang đền Thiên Trường; đúng 23h00 (giờ Tý) đêm 14 làm lễ rước ấn từ đền Cố Trạch sang đền Thiên Trường và đóng ấn; sáng 15 làm lễ rước nước tại bến sông Hồng (Hữu Bị); sáng 16 làm lễ tế cá sống (11 thùng sơn đỏ) thả về sông Hồng và tế tạ trước giờ Hợi.

Chương 2: Thực trạng việc tổ chức, quản lý và khai thác Lễ khai ấn đền Trần phục vụ du lịch

Chương 2 phân tích chi tiết quy trình tổ chức thực tế và đánh giá hiệu quả khai thác:

  • Kế hoạch tổ chức Lễ khai ấn năm Kỷ Sửu (2009): Do UBND thành phố Nam Định chủ trì với Ban Tổ chức do Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố làm Trưởng ban. Kế hoạch huy động 1.328 nhân sự thuộc các lực lượng công an, quân sự, trật tự (trong đó có hơn 800 cảnh sát) và 30 đoàn viên thanh niên tình nguyện hỗ trợ an toàn giao thông trên Quốc lộ 10.
  • Phân công nhiệm vụ cụ thể:
    • Ban Quản lý di tích: In ấn 120 phù hiệu đỏ, 1.200 phù hiệu xanh, 1.320 giấy mời, 35 phù hiệu xe; điều động 20 xe 29 chỗ; lắp đặt 100 barie gấp dài 2,5m; dựng 14 cột cờ inox tại đền Trần và 10 cột cờ tại chùa Tháp (cao 7m).
    • UBND phường Lộc Vượng: Quản lý dấu ấn, bố trí các điểm trông giữ xe, di chuyển người hành khất; tiếp nhận và phân bổ ấn gồm 500 ấn vải cho đại biểu nội cung, 100 ấn vải cho bảo vệ, 2.000 ấn vải cho tỉnh, 700 ấn vải cho Sở VHTTDL/STTTT, 1.500 ấn vải cho Thành ủy, 1.500 ấn vải cho UBND thành phố, 1.000 ấn giấy cho Phòng VHTT, 1.650 ấn vải cho lực lượng an ninh. Tổng số lượng ấn nhà đền chuẩn bị phát hành hàng năm khoảng 10 vạn bản.
  • Đánh giá mặt đạt được: Hạ tầng giao thông dẫn vào đền được nâng cấp lên 4 làn đường; bãi đỗ xe được quy hoạch cách xa khu vực tâm linh; vệ sinh môi trường hoàn thành thu gom rác trước 8h00 ngày 15 tháng Giêng; lễ hội được truyền hình trực tiếp, thu hút đông đảo du khách (năm 2007 đón 4 vạn người, năm 2008 tăng lên 7 vạn người dự đêm khai ấn).
  • Đánh giá tồn tại, hạn chế:
    • Tình trạng quá tải, chen lấn, xô đẩy và xé rào tranh giành lộc ấn làm giảm tính tôn nghiêm, xuất hiện tình trạng thương mại hóa và mê tín dị đoan.
    • Cơ sở hạ tầng lưu trú yếu kém: Toàn tỉnh chỉ có 304 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch với 162 khách sạn, nhà nghỉ (tổng 2.259 buồng phòng). Trong đó chỉ có 35 khách sạn đạt chuẩn 1–3 sao (1.451 phòng), 560 phòng đạt chuẩn từ 1 đến 3 sao và 90 phòng đạt chuẩn 3 sao do Tổng cục Du lịch công nhận. Hiện tượng "cháy phòng" xảy ra phổ biến trong đêm khai ấn.
    • Hoạt động du lịch mang tính mùa vụ sâu sắc, đa số khách chỉ đi lễ trong ngày rồi về, chi tiêu thấp, tỷ lệ lưu trú không đáng kể.

Chương 3: Định hướng, giải pháp phát huy giá trị của Lễ khai ấn đền Trần để phát triển du lịch Nam Định

Từ thực trạng nghiên cứu, tác giả đề xuất các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Công tác quy hoạch và bảo tồn: Đẩy mạnh quy hoạch tổng thể khu di tích đền Trần - chùa Tháp; phục dựng cảnh quan lịch sử gắn với bảo tồn nguyên trạng các cổ vật; hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa thế giới.
  • Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật: Xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú chất lượng cao, nhà hàng, điểm dừng chân và khu vui chơi giải trí nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ ban quản lý di tích; bồi dưỡng kiến thức văn hóa, kỹ năng giao tiếp và nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ và cộng đồng địa phương.
  • Nâng cao nhận thức xã hội: Tuyên truyền sâu rộng về giá trị lịch sử đích thực của nghi lễ khai ấn, vận động người dân và du khách thực hiện nếp sống văn minh, loại bỏ các hành vi lệch chuẩn, tranh cướp lộc ấn.
  • Xúc tiến quảng bá và phát triển sản phẩm: Đa dạng hóa các sản phẩm lưu niệm đặc trưng thời Trần; đẩy mạnh quảng bá trên truyền thông đại chúng; xây dựng các tuyến du lịch kết nối đền Trần với các điểm di tích khác trong tỉnh (Phủ Dày, chùa Cổ Lễ, bãi biển Quất Lâm, Thịnh Long).
  • Kiến nghị cơ chế: Đề nghị UBND tỉnh Nam Định tăng cường ngân sách tái đầu tư từ nguồn thu công đức và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng du lịch.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp số liệu thực tế phản ánh sự tăng trưởng của lượng khách du lịch đến cụm di tích đền Trần so với tổng lượng khách đến tỉnh Nam Định qua các năm:

Năm Tổng lượng khách đến Nam Định (lượt) Lượng khách đến cụm di tích Đền Trần (lượt) Tỷ trọng khách Đền Trần / Toàn tỉnh (%)
2005 1.150.000 236.000 20,52%
2006 1.270.000 270.500 21,30%
2007 1.361.000 334.900 24,60%
2008 1.557.210 433.500 27,83%

(Nguồn số liệu: Tổng hợp từ báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định trong khóa luận)

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, khóa luận mang lại các giá trị:

  • Đóng góp khoa học: Tiếp cận Lễ khai ấn đền Trần dưới góc độ quản lý văn hóa và phát triển kinh tế du lịch, bổ khuyết cho các nghiên cứu trước đây vốn chỉ thuần túy khảo cứu lịch sử học, khảo cổ học hoặc văn hóa dân gian.
  • Đóng góp thực tiễn: Hệ thống hóa chi tiết kế hoạch hành chính, cơ cấu phân công trách nhiệm của 14 đơn vị, ban ngành thuộc thành phố Nam Định trong công tác tổ chức lễ hội lớn. Đồng thời, đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết giữa bảo tồn di sản tâm linh với kinh doanh dịch vụ du lịch bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhìn nhận một số hạn chế do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu của sinh viên:

  • Dữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào công tác tổ chức và quản lý hành chính trong các mùa lễ hội 2005–2009, chưa thực hiện được các điều tra định lượng quy mô lớn về mức độ chi tiêu và sự hài lòng chi tiết của từng phân khúc du khách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần nghiên cứu sâu hơn về mô hình liên kết tuyến du lịch liên tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (Nam Định - Ninh Bình - Hà Nam - Thái Bình) và xây dựng phương án ứng dụng công nghệ kiểm soát đám đông hiện đại trong đêm khai ấn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Văn hóa trong việc nghiên cứu mô hình quản lý lễ hội truyền thống cấp địa phương.
  • Cán bộ quản lý di tích, cơ quan quản lý văn hóa - thể thao và du lịch tại các địa phương có di tích tâm linh đón lượng khách tập trung đột biến.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử thời Trần, văn hóa dân gian vùng hạ lưu sông Hồng và các đơn vị lữ hành xây dựng tour du lịch lễ hội đầu xuân.

Câu hỏi thường gặp

  1. Lễ khai ấn đền Trần có nguồn gốc lịch sử từ khi nào và ý nghĩa ban đầu của nghi lễ là gì?
    Nghi lễ bắt nguồn từ năm 1239 thời Trần sơ khi triều đình làm lễ tế tổ tiên tại phủ Thiên Trường, sau đó bị gián đoạn do chiến tranh và được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại vào năm 1262. Ý nghĩa ban đầu mang tính hành chính: sau kỳ nghỉ Tết từ ngày 23 tháng Chạp đến rằm tháng Giêng, nhà vua làm lễ khai ấn để đánh dấu ngày bộ máy chính quyền phong kiến bắt đầu làm việc trở lại trong năm mới.

  2. Quy mô kiến trúc và hiện vật tiêu biểu tại Đền Thiên Trường được ghi nhận như thế nào?
    Đền Thiên Trường có diện tích 5 ha, kiến trúc "nội công ngoại quốc" gồm 9 tòa nhà với 31 gian. Tiền đường gồm 5 gian có 24 cột gỗ lim đặt trên chân tảng đá chạm hoa sen thời Trần. Chính tẩm có diện tích dài 13,2m, rộng gần 12m, cao 7m. Đền thờ 14 vị vua Trần và bảo lưu nhiều đồ tế tự sơn son thiếp vàng, ngai thờ, hoành phi, câu đối cổ.

  3. Kế hoạch tổ chức Lễ khai ấn năm 2009 đã huy động lực lượng và phương án an ninh ra sao?
    Ban Tổ chức đã huy động 1.328 người thuộc lực lượng công an, quân sự, trật tự đô thị (gồm hơn 800 cảnh sát), 30 đoàn viên thanh niên tình nguyện; chuẩn bị 120 phù hiệu đỏ, 1.200 phù hiệu xanh, 1.320 giấy mời; lắp đặt 100 barie gấp dài 2,5m và lập hàng rào dây thép gai, lưới B40 quanh khu vực hành lễ để đảm bảo trật tự.

  4. Số lượng ấn phát hành và quy cách phân bổ trong lễ hội được chuẩn bị như thế nào?
    Mỗi năm nhà đền chuẩn bị phát hành khoảng 10 vạn bản ấn (gồm ấn lụa/vải và ấn giấy điệp). Năm 2009, phân bổ cụ thể: 2.000 ấn vải cho UBND tỉnh đối ngoại, 1.500 ấn vải cho Thành ủy, 1.500 ấn vải cho UBND thành phố, 700 ấn vải cho Sở VHTTDL và Sở TTTT, 1.000 ấn giấy cho Phòng VHTT, 1.650 ấn vải cho lực lượng an ninh trực tiếp làm nhiệm vụ, 500 ấn vải cho đại biểu trong nội cung và 100 ấn vải cho lực lượng bảo vệ.

  5. Thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú của Nam Định phục vụ Lễ khai ấn ra sao?
    Toàn tỉnh Nam Định tại thời điểm khảo sát có 304 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, 162 khách sạn và nhà nghỉ với tổng cộng 2.259 buồng phòng. Trong đó chỉ có 35 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1–3 sao với 1.451 phòng, 560 phòng đạt chuẩn 1–3 sao và 90 phòng đạt chuẩn 3 sao. Con số này chưa đáp ứng được lượng khách hàng vạn người đổ về trong đêm khai ấn, dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Trần Thị Thanh Dung đã phác thảo toàn diện bức tranh lịch sử, giá trị kiến trúc cụm di tích đền Trần và quy trình thực hành Lễ khai ấn tại Nam Định. Công trình chỉ rõ sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách du lịch từ năm 2005 đến 2008, đồng thời phản ánh chân thực những bất cập về hạ tầng lưu trú, an ninh trật tự và biến tướng mê tín dị đoan trong đêm hội. Các định hướng, giải pháp về quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến quảng bá được đề xuất là tư liệu tham khảo thực tế cho công tác quản lý văn hóa và phát triển du lịch bền vững tại địa phương.