phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận khai thác tài nguyên du lịch dải ven biển - Chƣơng 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác tài nguyên du lịch dải ven biển tỉnh Bình Thuận. - Chƣơng 3: Giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch dải ven biển tỉnh Bình Thuận. 13 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH DẢI VEN BIỂN 1. Tài nguyên du lịch dải ven biển 1.
Tài nguyên Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức đƣợc sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con ngƣời. Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lƣợng và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con ngƣời có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình. Nhƣ vậy, tài nguyên là đối tƣợng sản xuất của con ngƣời. Xã hội loài ngƣời càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lƣợng mỗi loại tài nguyên đƣợc con ngƣời khai thác ngày càng tăng.
Tài nguyên đƣợc phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con ngƣời và xã hội. Tài nguyên du lịch Tại Khoản 4, Điều 4, Chƣơng I – Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Nhƣ vậy, tài nguyên du lịch đƣợc xem nhƣ tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, là cơ sở phát triển của ngành du 14 z lịch.
Tất cả nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của du khách đƣợc ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch. Nói cách khác, hễ là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút du khách thì gọi chung là tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch hiện thực tức tài nguyên du lịch đã khai thác và tài nguyên du lịch tiềm năng còn chƣa khai phá. Tài nguyên du lịch hiện thực mới có thể cấu thành sản phẩm du lịch, có sản phẩm du lịch mới có thể chuyển hóa thành hàng hóa du lịch. Do vậy, chỉ có tài nguyên du lịch hiện thực mới có giá trị du lịch, mới có thể phát triển ngành du lịch [2, tr 127-128] 1.
Dải ven biển Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển,…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trƣng riêng về nguồn gốc phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển tiến hóa. Tƣơng đƣơng với thuật ngữ “dải ven biển” của Việt Nam, các tài liệu nƣớc ngoài có các thuật ngữ sau: vùng duyên hải (Nga), vùng ven biển (Pháp, Anh), vùng duyên hải (Trung Quốc) 1 Đƣờng bờ biển toàn thế giới dài tới 440.000 km, còn ở Việt Nam cũng có đến 3.200 km đƣờng bờ biển với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Không gian hoạt động du lịch biển là không gian địa lý nơi diễn ra các mối quan hệ chủ yếu về du lịch giữa đất liền và biển. Đƣợc xác định bởi lãnh thổ địa lý gồm: - Vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia đƣợc phân định theo luật pháp Việt Nam và quốc tế.
- Vùng đất liền ven biển tiếp giáp và có mối quan hệ giữa đất liền và biển về vị trí địa lý, sinh thái, hoạt động du lịch gắn với tài nguyên du lịch biển. 1 Khái niệm chung về dải ven biển trong báo cáo tổng kết khoa học và công nghệ Chƣơng trình ĐTCB và ứng dụng công nghệ biển-KC.09 của Bộ Khoa học và công nghệ năm 2004 15 z Trên cơ sở những tiêu chí trên, giới hạn không gian hoạt động du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam đƣợc xác định gồm hai khu vực: vùng biển đảo và vùng đất liền ven biển, cụ thể nhƣ sau: - Vùng biển: Vùng nƣớc có tài nguyên du lịch và các điều kiện để tổ chức các hoạt động du lịch biển, bao gồm vùng biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia đƣợc phép sử dụng vào mục đích phát triển du lịch theo quy định pháp luật. - Vùng ven biển: Lãnh thổ đất liền giáp biển, có chiều rộng 10-20 Km tính từ giới hạn mực nƣớc thuỷ triều trung bình vào trong đất liền. Nhƣ vậy, dải ven biển có thể đƣợc hiểu là dải lục địa ven biển, bất kể đồng bằng hay vùng núi, tính từ đƣờng bờ trở vào lục địa đến nơi chấm dứt ảnh hƣởng của biển, tƣơng ứng ranh giới phía lục địa của đới bờ Dải ven biển của tỉnh Bình Thuận đƣợc xác định bởi địa phận của các xã giáp biển của tỉnh, bao gồm phƣờng Hàm Tiến, phƣờng Mũi Né, phƣờng Phú Hài, phƣờng Lạc Đạo,phƣờng Hƣng Long xã Tiến Lợi, xã Tiến Thành (TP.Phan Thiết), xã Thuận Quý, xã Tân Thành ( huyện Hàm Thuận Nam), xã Tân Hải, xã Tân Bình, xã Tân Thiện (huyện Hàm Tân), xã Hòa Phú, Hòa Thắng (huyện Bắc Bình), xã Vĩnh Hảo, xã Phƣớc Thể, xã Bình Thạnh (huyện Tuy Phong),.
Tài nguyên du lịch dải ven biển Ngày nay, dải ven biển vĩ độ vừa và thấp của thế giới phần lớn là điểm nóng du lịch, các nƣớc đều rất coi trọng tài nguyên du lịch dải ven biển. Dải ven biển hàm chứa tài nguyên du lịch phong phú, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên. Bên cạnh tài nguyên du lịch tự nhiên, dải ven biển còn hàm chứa những giá trị nhân văn thông qua hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc. Các di tích 16 z văn hoá lịch sử nhƣ đình, chùa, tháp, nhà thờ…các làng chài ven biển cùng với những lối sinh hoạt lễ hội độc đáo, đặc sắc nhƣ lễ hội Cầu ngƣ, lễ hội Cá ông,.đặc biệt có giá trị to lớn đối với phát triển nhiều loại hình du lịch nhƣ du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dƣỡng.
Khách du lịch 1. Khái niệm Tại Khoản 2, Điều 4, Chƣơng I – Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định: Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Còn theo nhà kinh tế học ngƣời Áo Jozep Stander thì: “Khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên để thỏa mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế” Nhƣ vậy, khách du lịch là đối tƣợng phục vụ chính của ngành du lịch. Khách du lịch là khách đi thăm viếng, lƣu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thƣờng xuyên trên 24 giờ và nghi qua đêm tại đó với các mục đích nhƣ nghỉ dƣỡng, tham quan, tham dự hội nghi, thể thao,.Và có du khách thăm viếng lƣu lại ở một nơi nào đó dƣới 24 giờ và không lƣu trú qua đêm (còn gọi là khách tham quan.
Phân loại khách du lịch Phân loại theo phạm vi lãnh thổ có du khách quốc tế và du khách nội địa Ở Việt Nam, theo điều 20 chƣơng IV Pháp lệnh Du lịch, những ngƣời đƣợc thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trƣng cơ bản sau đây: - Là ngƣời nƣớc ngoài hoặc cƣ dân Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch. - Là công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam đi ra nƣớc ngoài du lịch. 17 z Du khách nội địa là công dân của một nƣớc đi du lịch (dƣới bất kỳ hình thức nào) trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Phân theo loại hình du lịch có: du khách du lịch sinh thái và du khách du lịch văn hóa.
Du khách du lịch sinh thái đƣợc chia làm ba đối tƣợng cụ thể: khách du lịch sinh thái cảm giác mạnh, khách du lịch sinh thái an nhàn, khách du lịch sinh thái đặc biệt Du khách du lịch văn hóa đƣợc chia thành hai đối tƣợng: du khách du lịch văn hóa đại trà và du khách du lịch văn hóa chuyên đề. Đặc điểm tài nguyên du lịch dải ven biển Là một loại tài nguyên, qua khai thác lợi dụng, tài nguyên du lịch dải ven biển có thể tạo ra các giá trị hoặc lợi ích nào đó. Nó vừa có những đặc điểm chung của tài nguyên du lịch nói chung lại có những đặc điểm khác biệt với các tài nguyên khác, có thể khái quát thành các đặc điểm nhƣ: - Tài nguyên du lịch dải ven biển với nhiều hình thức biểu hiện đa dạng bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn dọc theo dải ven biển, có cả những yếu tố hữu hình (nhƣ công trình kiến trúc đền đình, chùa tháp, bãi cát, phong cảnh,sản vật biển, các hải đảo.) và những yếu tố vô hình (tâm linh tín ngƣỡng trong đời sống của ngƣ dân làng chài, không khí biển,…). Cùng với nhu cầu du lịch của con ngƣời phát triển lên từng nấc cao, phạm vi không gian của hoạt động không ngừng mở rộng, hình thức và nội dung du lịch mới sẽ không ngừng đƣợc đƣa vào, làm cho tài nguyên du lịch dải ven biển cũng theo đó trở nên phong phú hơn.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên là do tự nhiên hình thành, hầu hết các tài nguyên du lịch tự nhiên dải ven biển là những tài nguyên thiên nhiên, chịu ảnh hƣởng của khí hậu và thay đổi môi trƣờng. Vì lý do đó, đánh giá tác động môi trƣờng có thể gây 18 z ra sự chậm trễ trong thực hiện dự án phát triển và nâng cao chi phí môi trƣờng vì sợ tổn hại môi trƣờng. - Trong nhiều trƣờng hợp, các điểm tham quan biển cách xa khu vực đô thị, các thị trƣờng mục tiêu và không dễ dàng tiếp cận.