Chương I: Tổng quan v`êđ ềtài Chương 2: Cơ sở lý thuyết của đ ềtài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHUONG 2: CO'SO' LY THUYET V ECHAT LUONG DICH VU DU LICH 2.1 Khái niệm v'êchất lượng dich vu du lich 2.1 Du lịch Theo Tử điển Bách khoa quốc tế v`êdu lịch của Viện hàn lâm khoa học quốc tế v`ề du lịch biên soạn thì “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một ngành liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầi của khách du lịch. Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ để thỏa mãn các nhu c`âi của họ” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008). Mill và Morrison (1982) định nghĩa du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước hay ranh giới một vùng, một khu vực nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu lại đó ít nhất 24 giở nhưng không quá một năm. Còn theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008) “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu c3 v €di lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu c*âi khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp”. Trong khi đó, theo Luật du lịch Việt Nam, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thưởng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu c3 tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, hoạt động du lịch là một tổng thể rất phức tạp g ôn nhi*âi thành phẦ tham gia như: khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa - dịch vụ du lịch, chính quy sở tại và cư dân địa phương. Hoạt động du lịch vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa mang đặc điểm của ngành văn hóa — xã hội.
Khái niệm v`êkhách du lịch (du khách) cũng được xem xét trên nhi âi góc độ. Theo nhà kinh tế học người Anh (Ozgilvie, 1933): Khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn 2 điâi kiện là rời khỏi nơi cư trú thưởng xuyên của mình trong khoảng thởi gian dưới 1 năm và chỉ tiêu ti bạc ở nơi họ đến thăm mà không kiếm ti ở đó. Còn theo Luật du lịch Việt Nam thì “Khách du lịch là người di du lich hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành ngh`ề để nhận thu nhập ở nơi họ đến”. Như vậy, khách du lịch là đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình hướng dẫn du lịch của hướng dẫn viên, là đối tượng của các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch.2 Dịch vụ Dịch vụ là hoạt động đã có tử lâu và giữ vị trí quan trọng trong đơi sống kinh tế xã hội.
Dịch vụ là một khái niệm phổ biến và có nhi ôi quan điểm v`êkhái niệm này. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng ở dạng phi vật chất. Theo Kotler và Keller (2006) thì dịch vụ v`êcơ bản là vô hình, không đem lại bất kì sự sở hữu nào và là bất kỳ hành động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác. Theo ISO 9004 — 2:1991E thì dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, dựa trên các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu câi của người tiêu dùng.
Như vậy, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán: nhà cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp) có thể cung cấp cho bên kia (người mua: khách hàng) và chủ yếu là vô hình, không mang tính sở hữu. Vì vậy, dịch vụ có thể gắn li & hay không gắn li với một sản phẩm vật chất. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các thông tin, sản phẩm nhằm đáp ứng tất cả nhu c3 trong quá trình đi du lịch của khách hàng. Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ nên những sản phẩm du lịch cũng có những đặc điểm của ngành dịch vụ (Margaret, 2007) cụ thể: - _ Tính vô hình: Sản phẩm dich vụ là sự thực hiện.
Khách hàng không thể nhìn thấy, nếm, ngửi, nghe, cảm nhận hoặc tiếp xúc trước khi mua nó. Vì vậy, dịch vụ là một tiến trình chứ không phải một vật thể, là sự thể hiện chứ không phải sự vật cụ thể và được cảm nhận chứ không phải là được tiêu dùng. - Tính không thé tach roi: Không giống như ngành sản xuất, các sản phẩm dich vụ được cung ứng cùng lúc với tiêu thụ. Vì vậy, nhà cung cấp khó che giấu lỗi hay khuyết điểm của dịch vụ vì không có khoảng cách thời gian từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ như sản phẩm hữu hình.
- Tính không đồng nhất: Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đ ông nhất và chính xác mà còn phụ thuộc vào thời điểm cung cấp, người cung cấp, khách hàng. Chính vì thế, rất khó có thể tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ như đối với sản phẩm hữu hình. - Tính dễ hỏng: Dịch vụ sẽ không tên tại nếu không được tiêu thụ vào một thời điểm xác định. Chính vì vậy, dịch vụ không thể được cất giữ và tiêu thụ sau.3 Chất lượng Tùy theo đối tượng sử dụng mà chất lượng có ý nghĩa khác nhau.
Bên cạnh đó, do khác biệt v`ên`ãn văn hóa và lĩnh vực hoạt động nên cách hiểu v`êchất lượng và dam bao chất lượng của mọi người cũng khác nhau. Theo tổ chức Quốc tế v`ềtiêu chuẩn hóa ISO:“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu ci của khách hàng và các bên có liên quan”.4 Chất lượng dịch vụ Bởi những đặc tính riêng của dịch vụ nên chất lượng dịch vụ là một khái niệm trừu tượng, khó đo lưỡng và được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thưởng diễn ra giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp. Chất lượng dịch vụ cũng là một khái niệm gây nhi âi sự tranh cãi, các nhà nghiên cứu gặp nhi`âi khó khăn trong việc định nghĩa và đo lưỡng chất lượng dịch vụ mà không h`ềcó sự thống nhất nào. Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ, còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào. Còn theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985) chất lượng dịch vụ được xem là khoảng cách giữa kỳ vọng của các khách hàng và nhận thức của họ khi đã qua sử dụng dịch vụ. Crolin và Tailor (1992) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng nên được đánh giá trong thởi gian ngắn, còn chất lượng dịch vụ nên đánh giá theo thái độ của khách hàng v` dịch vụ đó trong khoảng thời gian dài. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ còn là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng như cầi hay mong đợi của khách hàng.5 Chất lượng dịch vụ du lịch Chất lượng dịch vụ du lịch xuất phát từ chất lượng của những sản phẩm du lịch hữu hình và sản phẩm du lịch vô hình.
Đó là kết quả của sự so sánh giữa mong đợi của khách hàng v édich vu du lịch và cảm nhận của họ sau khi sử dụng dich vu du lịch đó.2 Các mô hình đo lương chất lượng dịch vụ Việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ là vô cùng khó khăn do những tính chất đặc thù riêng biệt của từng loại dịch vụ, yêu câi của khách hàng. Hơn nữa, sự kỳ vọng của khách hàng cũng tùy thuộc vào các yếu tố thời gian, giá cả, sự cạnh tranh trong môi trưởng của ngành,. đồi hỏi các nhà quản lý c3Ần phải quan tâm và đi tư đúng mức trong việc đo lưỡng và xây dựng tiêu chuẩn v`êchất lượng dịch vụ cho lĩnh vực của mình. Để đo lưỡng chất lượng dịch vụ, có một số mô hình thông dụng là: 2.1 Mô hình chất lượng dịch vụ Gronroos Theo mô hình của Gronroos (1984) thì chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: - Chất lượng kỹ thuật (Technical quality): là những gì mà khách hàng nhận được, kết quả kỹ thuật của quá trình; - Chất lượng chức năng (Functional quality): là dịch vụ được cung cấp như thế nào.
- Hình ảnh cũng là yếu tố rất quan trọng, được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ cùng với một số yếu tố khác như truyân miệng, marketing, PR. 10 Kỳ vọng Chất lượng Dich vu v €dich vu dịch vụ cảm nhân được Các hoạt động marketing truy â thống và các yếu tố bên ngoài CC nhám `) Chất lượng kỹ thuật Chất lượng chức năng Cái gì? Thế nào? Hình 2.1 Mô hình chất lượng kỹ thuật/ chức năng của Gronroos (1984) 2.2 Thang đo chất lượng dịch vụ Parasuraman Dựa vào mô hình của Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1985) đã giới thiệu thang đo SERVQUAL là mô hình chất lượng dịch vụ được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ (hình 2.2): - Khoảng cách 1 (KCI): khoảng cách giữa nhận thức của công ty v`êkỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng của khách hàng. - Khoảng cách 2 (KC2) khoảng cách giữa nhận thức của công ty v`ềkỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ. - Khoảng cách 3 (KC3) khoảng cách giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế cung cấp cho khách hàng.
- Khoảng cách 4 (K4) khoảng cách giữa dịch vụ thực tế cung cấp và chất lượng dịch vụ đã thông tin cho khách hàng. - Khoảng cách 5 (KC5) khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được và kỳ vọng của khách hàng v dịch vụ. 11 Truy& miéng | | Nhu ca ca nhan | | Kinh nghiệm quá khứ | Khách hàng *Ì Kỳ vọng v dịch vụ |Ế A KC5 vụ nhận được |e——— Vv [ Đh 4 KC4 ——- Cung cấp dịch vụ | ——— z es tin tới2 Thị trường KC3 + | Các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ KCI af ] Nhận thức của công ty v`ề kỳ vọng của khách hàng Hình 2.2 Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL (Parasuraman et al.