Chương 1: Chương mở đầu này sẽ giới thiệu các vấn đề khái quát nhất của luận văn, xoay quanh du lịch, covid 19 và mục tiêu mà tác giả muốn thực hiện Chương 2: Thể hiện các lý thuyết phù hợp với chủ đề du lịch và TTKT. Chương 3: Lựa chọn mô hình tối ưu cho luận văn, trên cơ sở xem xét sự hòa hợp, hợp lý với các mô hình của các bậc tiền bối cùng nguồn dữ liệu thu thập được Chương 4: Nêu lên thành quả mà tác giả tìm ra Chương 5: Kết luận cũng như các gợi mở về phương án có thể thực hiện 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ diễn giải những luận điểm, các kiến thức về lý luận dính dán đến du lịch, tóm tắt những trường phái nghiên cứu kinh tế và TTKT, các công trình thực nghiệm có dính dán đến du lịch và TTKT 2.1 Một số hiểu biết cần thiết về TTKT 2.1 Định nghĩa TTKT David Begg và ctg (2008) cho rằng TTKT là tỷ lệ thay đổi hoặc là của sản lượng thực tế hoặc là của thu nhập thực tế. Hiện tại, gần như các đất nước đều dùng hệ thống tài khoản đất nước SNA để thể hiện, tính toán khối lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ nước mình. Các chỉ tiêu trong hệ thống này được chia ra thành 2 nhóm: nhóm tính toán theo giới hạn địa lý hoặc nhóm tính toán theo quyền sở hữu.
GDP thuộc nhóm theo lãnh thổ và GNP thuộc nhóm theo quyền sở hữu (Nguyễn Như Ý và ctg, 2007). Có 3 chỉ tiêu thông dụng cho phép chúng ta xem xét hoạt động kinh tế của quốc gia cụ thể: Tốc độ TTKT, GDP và GNP. Tốc độ tăng trưởng là một chỉ tiêu khả dĩ được dùng để đánh giá TTKT, khái niệm này được hiểu là phần trăm tăng hàng năm của một biến số có khả năng áp dụng để đo lường TTKT. Biến số trong trường hợp này có thể kể đến GDP hoặc GNP thực tế là 2 chỉ số thông dụng.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP): một chỉ tiêu phổ biến được dùng để thể hiện TTKT. GDP đo lường giá trị của sản lượng ròng trong nền kinh tế. Sản lượng ròng hay giá trị gia tăng được đong đếm bằng tiền của hàng hóa và dịch vụ. Những sản phẩm không được mua bán, do vậy không ước tính được, sẽ bị bỏ qua.
GDP đo lường sản lượng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ 1 đất nước, chỉ tiêu này không quan tâm ai nắm giữ các yếu tố đầu vào. Quan tâm quy mô nền kinh tế, chúng ta xem xét GDP. 8 Và, quan tâm đến chừng độ có được trạng thái sung sướng của một người tiêu biểu chúng ta nên sử dụng GDP bình quân đầu người (David Begg và ctg, 2008). Khi chúng ta tính tổng sản phẩm trên phạm vi cả nước chúng ta có GDP.
Và, khi chúng ta tính trên phạm vi địa phương thì chúng ta được GRDP. Chỉ tiêu GDP và GRDP trùng khớp, tương tự nhau về phương pháp tính, có thể nói rằng tùy thuộc phạm vi, lãnh địa tính toán mà ta được GDP hay GRDP (Tổng cục thống kê, 2020). Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thể hiện giá trị bằng tiền trong 1 năm của hết thảy sản phẩm cuối cùng mà người mang quốc tịch một nước cụ thể sản xuất ra (Nguyễn Như Ý và ctg, 2007) 2.2 Cách tính TTKT Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), GDP thường được tính theo 3 cách: theo giá trị gia tăng, theo tổng chi tiêu hoặc theo tổng thu nhập. Vì nghiên cứu tiếp cận GDP theo phương pháp chi tiêu nên tác giả chỉ giới thiệu vắn tắt cách tính này.
GDP chỉ bao gồm sản phẩm cuối cùng chứ không có sự hiện diện của sản phẩm trung gian GDP = C + I + G + NX Với: - GDP: tổng sản lượng trong nước - C: tiêu dùng của hộ gia đình. - G: tiêu dùng của chính phủ. - NX: xuất khẩu ròng (xuất khẩu – nhập khẩu).2 Một số luận điểm cần biết về kinh tế và TTKT Có nhiều lý thuyết về kinh tế và TTKT, một số lý thuyết có sức ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế. Sau đây luận văn sẽ lược khảo một số lý thuyết tiêu biểu.1 Thuyết Bàn tay vô hình và hữu hình Thuyết bàn tay vô hình cho rằng khối lượng tài sản của đất nước sẽ đạt được nhờ vào tự do các hoạt động kinh doanh, chính quyền không nên can dự vào sự vận hành của nền kinh tế (Adam Smith, 1776).
Thuyết này đã thể hiện những hạn chế như nó chẳng thể giải thích được hiện tượng đầu cơ, khủng hoảng kinh tế theo chu kì hay bong bóng tài chính. Ngược lại, thuyết bàn tay hữu hình nhận định hết thảy nền kinh tế được điều phối bởi các nhà quản lý (Chandler, 1977). Một số hạn chế của thuyết này là Nhà nước sẽ chẳng thể có đủ nguồn lực để điều phối tất cả các ngành, lĩnh vực. Mặt trái do thuyết này mang lại có thể kể đến là hình thành cơ chế xin - cho, xuất hiện nhóm lợi ích, tham nhũng.
Rất nhiều các nền kinh tế ngày nay đều lựa chọn kết hợp linh hoạt 2 lý thuyết này 2.2 Tăng trưởng nội sinh Giảng viên Paul Romer công tác tại trường Đại học Chicago đã cho rằng tỷ lệ tăng trưởng chịu sự chi phối, ràng buộc bởi hành vi kinh tế và chính sách kinh tế để đạt được trạng thái cân bằng động (David Begg và ctg, 2008).3 Giả thuyết hội tụ Đề xuất này khẳng định tồn tại một trạng thái cân bằng động duy nhất, và tất cả các nền kinh tế sẽ hội tụ về điểm cân bằng, không cần quan tâm xuất phát điểm của nền kinh tế, dù lúc đầu mức tư bản trên đầu người khác nhau, thì qua thời gian, tất cả rồi sẽ giống nhau. Và các nền kinh tế nghèo tăng trưởng nhanh hơn mức trung bình, trong khi đó một nền kinh tế giàu tăng chậm hơn mức trung bình, cứ như thế, đến 1 lúc nào đó, các nước 10 ít giàu sẽ “đuổi kịp” những nước giàu hơn, và như vậy tư bản bình quân đầu người sẽ gặp nhau tại 1 điểm. Có 2 nguyên nhân dẫn đến điều này: (1) với mức tư bản bình quân đầu người còn thấp thì việc đầu tư theo chiều sâu sẽ dễ hơn, (2) hiệu ứng đuổi kịp trong công nghệ.4 Các lý thuyết TTKT Nhiều nhà kinh tế thiết lập các lý thuyết của mình dựa vào lập luận sự khan hiếm tài nguyên gây nên giới hạn của sản lượng. Tức là các bộ phận cấu thành của đầu vào quyết định phần trăm tăng hàng năm của sản lượng nền kinh tế.
Ricardo (1817) cho rằng cội nguồn của TTKT là ruộng đất sản xuất nông nghiệp. Hàm sản xuất do Ricardo đề xuất có thể hiểu rằng sản lượng có được là nhờ sự kết hợp vốn, lao động và ruộng đất, trong đó ông rất coi trọng nhân tố đất đai. Theo Marx lao động, tư bản, đất đai và tiến bộ khoa học kỹ thuật là các yếu tố có hiệu lực đến quy trình tái sản xuất. Chức năng của sức lao động đối với quá trình làm nên giá trị thặng dư được Max đặc biệt quan tâm.
Đầu tư (tư bản) chính là yếu tố mà Keynes coi trọng. Năm 1940, phát triển tư tưởng này Harrod ở Anh và Domar ở Mỹ đã phát biểu một đề xuất biểu lộ sự liên quan giữa đầu tư và việc gia tăng tổng sản phẩm, để ghi nhớ 2 nhà kinh tế học, mô phỏng mối liên hệ này được biết đến với tên gọi Harrod - Domar. Phương trình thể hiện điều ràng buộc rằng muốn có thêm một đồng trong tổng sản lượng thì phải thêm bao nhiêu đồng trong tổng đầu tư. Theo Keynes thì quy mô kinh tế và việc làm được xác lập bởi cầu.
Samuelson và Nordhalls (2002) với lý thuyết về giới hạn “khả năng sản xuất” và tăng trưởng kinh tế đã xác định 4 yếu tố kích thích TTKT gồm vốn con người, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Sự kết hợp giữa 4 thành tố này theo các cách khác nhau của các quốc gia sẽ dẫn đến TTKT khác nhau tại các nước. 11 Như vậy, theo năm tháng, nền kinh tế toàn cầu đi qua các thăng trầm, bằng góc nhìn, chiêm nghiệm khác nhau của nhà kinh tế nhiều lý thuyết kinh tế đã ra đời. Mỗi lý thuyết đặt nặng các yếu tố khác nhau tương thích với điều kiện lịch sử thời đại của họ, các mô hình vẫn có giá trị khi xét trong bối cảnh cụ thể.3 Tổng quan du lịch liên hệ với TTKT 2.1 Phần bao quát về xu hướng tìm hiểu 2.1 Một số khái niệm Các định nghĩa về du lịch sẽ được thể hiện qua phần phụ lục 1.2 Các xu hướng nghiên cứu chính Khi tìm hiểu sự dính dán giữa du lịch và TTKT, những học giả thường tiếp cận theo các hướng chính: Xem du lịch là yếu tố ngoại sinh của tổng cầu; nhìn nhận du lịch thông qua quan điểm tăng trưởng nội sinh là cách tiếp cận thứ hai; hoặc đặt du lịch vào môi trường kinh tế có sự hội tụ để xem xét.
Với phương pháp xem xét thứ nhất: không thể xem du lịch là hoạt động đơn độc, nó được nhìn nhận là một nhóm các hoạt động dịch vụ. Ngành du lịch kết nối tạo ra biến đổi mang tính phát triển đến hàng loạt dịch vụ khác như vận chuyển, kết nối thông tin, khách sạn, ẩm thực, mua sắm, giải trí, vv. Do đó, du lịch kết nối với nhiều hoạt động kinh tế khác, nó mang đến những đóng góp có hiệu quả vào TTKT. Theo Tiwari (2011), lý thuyết số nhân của Keynes có nghĩa là bất kỳ chi tiêu nào của chính phủ cũng mang lại chu kỳ chi tiêu làm tăng việc làm và từ đó dẫn đến kinh tế phát triển.
Khi lượng khách du lịch tăng, mức sản xuất hiện tại của tỉnh, thành phố tăng và điều đó dẫn đến tăng mức thu nhập và việc làm. Đầu tư vào du lịch sẽ mang lại công ăn việc làm cho người lao động tại các tỉnh, thành phố từ đó cải thiện thu nhập trong nền kinh tế và tạo ra hiệu ứng thu nhập. Ví dụ, chi tiêu cho du lịch một đồng làm tăng thu nhập trong nước hơn một đồng thông qua hiệu ứng số nhân thu nhập, trong khi có thêm một đơn vị việc làm trong 12 ngành du lịch làm tăng việc làm của hơn một đơn vị của cả nền kinh tế bởi vì hiệu ứng số nhân việc làm. Do đó, theo cách tiếp cận này, du lịch đóng góp tích cực thông qua số nhân thu nhập, việc làm (Suresh và Senthilnathan, 2014) Thực vậy, góp mặt vào danh sách những ngành có chuyển biến tăng nhanh nhất, du lịch dần trở thành ngành dịch vụ lớn nhất trên thế giới.