Chương 1 của Luật du lịch Việt Nam (do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 19/6/2017): Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Đúng như một chuyên gia DL nhận định: ''Đối với DL có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa''. Nhưng tổng hợp lại ta thấy khái biệm DL hàm chứa các yếu tố cơ bản sau: DL là một hiện tượng KTXH. DL là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
DL là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình. Du lịch sinh thái Định nghĩa về du lịch sinh thái của hiệp hội du lịch sinh thái (1992).“Du lịch sinh thái là sự du hành mục đích đến các khu vực tự nhiên để hiểu biết lịch sử tự nhiên, văn hóa môi trường, không làm biến đổi tính hoàn chỉnh về sinh thái đồng thời tạo cơ hội phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.Tuy nhiên, do mỗi quốc gia có đặc diểm khác nhau về địa hình, kinh tế, văn hóa – xã hội…nên hoạt động du lịch sinh thái được hiểu dưới góc độ khác nhau và ở mỗi quốc gia có một định nghĩa riêng về du lịch sinh thái. Có thể đề cập đến một số khái niệm về DLST như sau: Theo Wood (1991): DLST là DL đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST.
Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc 7 bảo tồn tự nhiên và mang lợi ích về tài chính cho nhân dân địa phương. Theo Hiệp hội DLST Quốc tế: DLST là DL có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương. Theo Điều 3, khoản 16, Luật du lịch Việt Nam (2017): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Tài nguyên du lịch sinh thái TNDLST là một bộ phận quan trọng của TNDL, bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một HST cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời HST tự nhiên đó.
Tuy nhiên không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là TNDLST mà chỉ những thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một HST cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển DLST mới được xem là TNDLST. TNDLST gồm tài nguyên đang được khai thác và tài nguyên chưa khai thác.Nhìn chung TNDLST rất đa dạng và phong phú. Một số TNDLST chính thường được khai thác và phục vụ nhu cầu của du khách gồm: + Các HST tự nhiên điển hình và đa dạng sinh học (khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, KBT thiên nhiên,…)Các TNDLST đặc thù (miệt vườn, sân chim,…) + Các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển HST tự nhiên như: các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống dân tộc,… 1. Phát triển Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa tốt đến hoàn hảo về mọi mặt.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Phát triển du lịch Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và 8 nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống cộng đồng địa phương. Khách du lịch Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến (Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam 2017). Sản phẩm du lịch SPDL bao gồm các dịch vụ DL, các hàng hoá và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, CSVC- KT và lao động DL tại một vùng, một địa phương nào đó.
Như vậy SPDL bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách. SPDL = TNDL + Các dịch vụ và hàng hóa DL SPDL có thể là sản phẩm đơn lẻ, cũng có thể là sản phẩm tổng hợp, do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng: Sản phẩm đơn lẻ: là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một nhu cầu cụ thể của du khách. Ví dụ, một khách sạn có dịch vụ cho khách DL thuê xe tự lái. Các nhà cung ứng có thể là khách sạn, có thể là nhà hàng, có thể là hãng vận chuyển… Sản phẩm tổng hợp: là sản phẩm phải thoả mãn đồng thời một nhóm nhu cầu của du khách.
Chẳng hạn chương trình (tour) DL trọn gói bao gồm nhiều dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí,… 1. Một số vấn đề cơ bản về phát triển du lịch sinh thái 1. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái (Theo TS. Trần Thị Mai Hiệu trưởng Trường THNV Du lịch Huế) nguyên tắc của du lịch sinh thái: 9 Nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên; du khách có các hoạt động góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường, bản sắc văn hoá.
Khách DLST chấp nhận điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên với những hạn chế của nó. Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Lượng du khách luôn kiểm soát điều hoà. Phải đảm bảo lợi ích lâu dài, hài hòa cho tất cả các bên liên quan.
Người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia DLST phải có nhận thức cao về môi trường sinh thái, am hiểu về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội. Cần có sự đào tạo đối với tất cả các thành viên, đối tác tham gia vào DLST 1. Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái, nếu được biểu thị với ý nghĩa thực của nó, bao gồm 5 đặc trưng cơ bản có quan hệ hỗ trợ nhau. Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc.
Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người. Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn tự nhiên. Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngược trở lại môi trường. DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoài những lợi ích về văn hoá - xã hội.
Sự đóng góp về tài chính với một phần chi phí trong chuyến đi của du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học. DLST gắn liền với giáo dục môi trường (GDMT): Đặc điểm GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác. Giải thích và GDMT là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh 10 nghiệm du lịch thú vị và nâng cao kiến thức và sự trân trọng môi trường cho du khách, dẫn đến hành động tích cực đối với bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của hoạt động DLST trong những khu tự nhiên. Mang lại lợi ích cho địa phương: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực.
Cộng đồng địa phương chỉ có thể tham gia vào những công việc vận hành DLST, trên phương diện cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế, các dịch vụ, các trang thiết bị và các sản phẩm phục vụ khách. Những lợi ích này nhất thiết phải "nặng ký" hơn sự trả giá về môi trường và văn hoá - xã hội nảy sinh từ du lịch mà cộng đồng địa phương phải gánh chịu. Thoả mãn nhu cầu về kinh nghiệm du lịch cho du khách: Việc thỏa mãn những mong muốn của khách tham quan với những kinh nghiệm du lịch lý thú là cần thiết đối với sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST, trong đó có một phần quan trọng là sự an toàn cho du khách và phải thoả mãn hoặc vượt quá sự mong đợi của du khách. Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái.
Những yếu tố dưới đây có vai trò quyết định đối với việc tổ chức thành công hoạt động DLST: Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của KBTTN và VQG. Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan tổ chức phi chính phủ. Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương. Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour tư nhân.