phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn này gồm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên tại vƣờn quốc gia. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên tại Vƣờn quốc gia Bạch Mã. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên tại Vƣờn quốc gia Bạch Mã. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO THIÊN NHIÊN TẠI VƢỜN QUỐC GIA 1.
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VƢỜN QUỐC GIA 1. Khái niệm Vƣờn quốc gia đƣợc định nghĩa bởi Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature - IUCN) giống nhƣ là một trong bảy hình thức của khu bảo tồn thiên nhiên nhằm hƣớng tới một hình thức đặc biệt về mục tiêu quản lý (Bảng 1. Sự phân hạng này đƣợc giới thiệu vào năm 1992 với sự tham gia của các nhà khoa học từ 181 quốc gia trên thế giới nhƣ một sự thống nhất từ 140 thuật ngữ khác nhau đƣợc sử dụng trên thế giới về các khu bảo tồn thiên nhiên. Các vƣờn quốc gia nằm trong phân hạng II của IUCN là những khu bảo tồn đƣợc quản lý chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ hệ sinh thái và cung cấp các hoạt động giải trí.
Tính đến năm 2003, ƣớc tính số vƣờn quốc gia trên thế giới đạt 2.881 khu bảo tồn, bao phủ diện tích trên 4,5 triệu km2 (IUCN/UNEP, 2003). Hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên theo IUCN Hạng Mục tiêu quản lý Hạng Ia – Khu dự trữ Các khu bảo tồn đƣợc quản lý cho mục đích khoa học và thiên nhiên nghiêm đƣợc thiết lập nghiêm ngặt nhằm bảo vệ đa dạng sinh học ngặt và cũng có thể là các đặc điểm địa chất/địa mạo, nơi ngƣời dân tham quan, hoạt động sử dụng và các tác động đƣợc kiểm soát chặt chẽ và giới hạn nhằm bảo vệ các giá trị bảo tồn. Hạng Ib – Vùng Khu bảo tồn đƣợc quản lý nhằm giữ lại sự nguyên vẹn về hoang dã các đặc điểm và ảnh hƣởng tự nhiên mà không có sinh cảnh của con ngƣời xuất hiện hoàn toàn hoặc một cách có ý nghĩa. 8 Hạng Mục tiêu quản lý Hạng II – Vƣờn quốc Khu bảo tồn đƣợc quản lý với mục đích chính nhằm bảo vệ gia hệ sinh thái cùng với sự thúc đẩy của hoạt động giải trí và giáo dục.
Hạng III – Khu bảo Khu bảo tồn đƣợc quản lý chủ yếu cho mục định bảo vệ các tồn thắng cảnh tự đặc điểm tự nhiên đặc biệt. nhiên Hạng IV – Khu bảo Khu bảo tồn chủ yếu đƣợc quản lý cho mục đích bảo tồn tồn loài/sinh cảnh thông qua việc quản lý dựa trên những can thiệp tích cực. Hạng V – Khu bảo Khu bảo tồn chủ yếu quản lý cho việc bảo tồn phong cảnh tồn cảnh quan đất thiên nhiên đất liền/biển và du lịch. liền/biển Hạng VI – Khu bảo Khu bảo tồn đƣợc quản lý nhằm bảo tồn môi trƣờng sống tồn kết hợp với sử và hệ sinh thái, cùng với các giá trị liên kết văn hóa, hệ dụng bền vững nguồn thống quản lý tài nguyên thiên nhiên truyền thống.
tài nguyên thiên nhiên Nguồn: IUCN, 1994 Theo IUCN (1994), các vƣờn quốc gia là những khu vực tự nhiên của đất liên hoặc biển (hoặc cả hai) đƣợc thiết kế nhằm: (a) Bảo vệ tính toàn vẹn của các hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tƣơng lai; (b) Loại trừ việc khai thác hoặc chiếm đóng không phù hợp với mục đích thiết kế của khu vực đó, và (c) Cung cấp một nền tảng cơ bản cho các cơ hội về tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và du khách, và tất cả đều phải phù hợp văn hóa và môi trƣờng. Tại Việt Nam, vƣờn quốc gia nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và những khu vực đáp ứng đủ các tiêu chí sau sẽ đƣợc coi là vƣờn quốc gia dựa trên Điều 6, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp năm 2017 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2029): 9 a) Có ít nhất 01 hệ sinh thái tự nhiên đặc trƣng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; b) Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng, giải trí; c) Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái rừng. Trên cơ sở đó, các khu bảo tồn thiên nhiên đƣợc thành lập rất đa dạng, trong đó có vƣờn quốc gia, và đều hƣớng tới các mục tiêu sau (IUCN, 2008): • Nghiên cứu khoa học • Bảo vệ đời sống hoang dã • Bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen • Duy trì các dịch vụ môi trƣờng • Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa • Du lịch và nghỉ dƣỡng • Giáo dục • Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên • Gìn giữ các bản sắc văn hóa và truyền thống Nếu một khu bảo tồn đƣợc quản lý theo cách lành mạnh về môi trƣờng, hƣớng đến những lợi ích và nguyên tắc bảo tồn đƣợc theo đuổi thì chúng có thể đƣợc sử dụng về mặt kinh tế đối với việc phát triển du lịch bền vững. Ở nƣớc ta, theo Tổng cục Lâm nghiệp (2016), 31 vƣờn quốc gia đã đƣợc thiết lập nằm trong tổng số 166 khu bảo tồn nằm trong hệ thống rừng đặc dụng (31 vƣờn quốc gia, 58 khu dự trữ sinh quyển, 10 khu bảo tồn loài sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan, và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm) với tổng diện tích 2.744 ha, chiếm 6,6% diện tích lãnh thổ trên cạn.
Hiện nay, số lƣợng vƣờn quốc gia ở nƣớc ta đã đƣợc mở rộng lên 34 vƣờn (Hiền, 2021). Sự gia tăng số lƣợng các vƣờn quốc gia không những đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học 10 và nguồn tài nguyên ở nƣớc ta, mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của ngƣời dân địa phƣơng, nhất là ngƣời dân sống xung quanh các khu bảo tồn. Các đặc điểm của vƣờn quốc gia Vƣờn quốc gia là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên đóng vai trò chủ chốt trong “bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ”. Tuy nhiên, không khu bảo tồn nào thành công nếu đƣợc quản lý một cách riêng rẽ và cô lập.
Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn chú trọng tới mối quan hệ giữa các khu bảo tồn và đặt mạng lƣới khu bảo tồn trong bối cảnh và mối liên quan tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa rộng lớn. Theo đó, quy hoạch hệ thống khu bảo tồn đƣợc xem là cách tiếp cận để đảm bảo tầm quan trọng và hiệu quả của hệ thống khu bảo tồn quốc gia. Theo đó, các vƣờn quốc gia thƣờng có ít năm đặc điểm sau (IUCN, 2008), cụ thể: Tính đại diện, toàn diện và cân bằng Đặc điểm này phản ánh tính đa dạng sinh học của một nƣớc tại các cấp: nguồn gen, loài, và sinh cảnh (hệ sinh thái), và cũng áp dụng đối với các giá trị khác nhƣ cảnh quan và văn hóa. Theo đó, các nƣớc cần tiến hành các nghiên cứu xác định các kiểu sinh cảnh và đa dạng sinh học với mục đích rà soát, quy hoạch lại các khu BTTN để đảm bảo tính đại diện.
Tính đầy đủ Khi xem xét khi lựa chọn các phƣơng án quy hoạch khu bảo tồn, vị trí, diện tích và ranh giới của các khu bảo tồn cần đƣợc xem xét trên cơ sở các yếu tố sau: yêu cầu về khu vực cƣ trú của các loài quý, hiếm hay các loài khác; qui mô quần thể tối thiểu để duy trì sự tồn tại; liên kết giữa các khu khu bảo tồn (hành lang) cho phép sự di chuyển của động vật hoang dã, hay đôi khi cần có sự cô lập, tách biệt nhằm giảm thiểu truyền dịch bệnh, loài săn mồi…; các mối quan hệ khu vực; mối liên kết hệ thống tự nhiên và ranh giới; khả năng tiếp cận hoặc không thể tiếp cận để tiến hành các hoạt động quản lý hoặc phát hiện các tác động tiềm ẩn; các mối đe dọa từ bên ngoài hoặc các nguy cơ thoái hóa hiện tại; các hoạt động sử dụng, sở hữu tài nguyên thiên nhiên truyền thống và bền vững; chi phí cho việc thành lập khu bảo tồn. 11 Tính gắn kết và bổ sung Tính gắn kết và bổ sung của khu bảo tồn đƣợc phản ánh qua sự đóng góp tích cực của từng khu cho toàn hệ thống khu bảo tồn. Mỗi khu bảo tồn cần phải tăng thêm giá trị cho toàn hệ thống quốc gia về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng. Tăng diện tích hoặc số lƣợng các khu bảo tồn ít có ý nghĩa trừ khi điều này mang lại lợi ích tƣơng xứng với các chi phí bỏ ra.
Tính nhất quán Tính nhất quán thể hiện qua mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý của khu bảo tồn và các hoạt động bảo tồn. Một trong những mục đích chính của phân hạng quản lý các khu bảo tồn nhằm thúc đẩy xây dựng hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên dựa trên mục tiêu quản lý và nhấn mạnh rằng hoạt động quản lý phải nhất quán với những mục tiêu này. Hiệu quả, hiệu suất và công bằng Việc thành lập và quản lý khu bảo tồn cần đảm bảo sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích, và sự công bằng trong phân bổ chi phí và lợi ích giữa các bên có liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng và đồng bào dân tộc ít ngƣời. Việc thành lập và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên phải đƣợc coi là một loại hoạt động kinh tế - xã hội, cũng nhƣ nhằm mục đích đem lại một số lợi ích cho xã hội và môi trƣờng thiên nhiên.
Theo đó, hoạt động của khu bảo tồn phải bảo đảm có hiệu quả, tƣơng xứng với chi phí bỏ ra và đƣợc quản lý sao cho các tác động và lợi ích đƣợc phân bổ và chia sẻ công bằng với các cộng đồng và các bên có liên quan tham gia. PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ DU LỊCH DỰA VÀO THIÊN NHIÊN TẠI VƢỜN QUỐC GIA 1.