Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa sở hữu diện tích tự nhiên 17.641 ha với vùng lõi bảo tồn nghiêm ngặt rộng 8.838 ha, nằm ở độ cao đỉnh 1.487m so với mực nước biển. Đây là nơi lưu giữ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá với 793 loài thực vật bậc cao có mạch và 298 loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng của thành phố Đà Nẵng, hoạt động du lịch tại đây đang đối mặt với sự xung đột gay gắt giữa bảo tồn sinh thái và thương mại hóa đại chúng. Việc xây dựng hạ tầng ồ ạt phục vụ vui chơi giải trí nhân tạo đã tạo áp lực nặng nề lên cảnh quan nguyên sinh, trong khi cộng đồng cư dân bản địa tại hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú (huyện Hòa Vang) vẫn đứng ngoài chuỗi giá trị kinh tế chính.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết bài toán phát triển du lịch sinh thái gắn kết với quyền lợi và sự tham gia của cộng đồng địa phương. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên tự nhiên, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 – 2013, từ đó thiết lập mô hình phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa. Nghiên cứu xác lập cơ chế phân phối lợi ích công bằng và đề xuất các tuyến trải nghiệm thiên nhiên bền vững.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình chiến lược điểm đến, giảm thiểu hệ số thời vụ từ mức đỉnh 2,131 xuống biên độ an toàn, đồng thời tạo sinh kế ổn định cho hơn 300 hộ dân vùng đệm, bảo vệ 19 loài thực vật quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam trước nguy cơ suy thoái môi trường sống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết du lịch sinh thái hiện đại của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế và định nghĩa nền tảng của Hector Ceballos-Lascurain, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột cốt lõi: hoạt động trải nghiệm diễn ra tại các hệ sinh thái nguyên sơ theo phong cách hòa nhập thiên nhiên, doanh thu tái đầu tư cho bảo tồn và phúc lợi cộng đồng, và quy mô khai thác tuân thủ nguyên tắc nhỏ là đẹp.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng cùng khung phân tích mối quan hệ bốn kịch bản giữa cộng đồng và du lịch của nhóm tác giả S.Singh (gồm quan hệ Thắng – Thắng, Thắng – Thua, Thua – Thắng và Thua – Thua). Luận văn tích hợp các cấp độ tham gia của cư dân từ thụ động, có tham gia đến chủ động đồng quản lý tài nguyên. Bốn khái niệm chính được vận dụng xuyên suốt gồm: sức chứa sinh thái, đa dạng sinh học vùng chuyển tiếp, đồng quản lý tài nguyên rừng và chỉ số hấp dẫn du lịch sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa thông tin thứ cấp từ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, Chi cục Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa và dữ liệu sơ cấp thu thập qua các đợt khảo sát thực địa từ năm 2011 đến 2013. Cỡ mẫu điều tra xã hội học được xác định gồm 250 phiếu khảo sát du khách (gồm 200 khách nội địa và 50 khách quốc tế), 120 hộ dân cư tại hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú, cùng 15 chuyên gia quản lý môi trường và lâm nghiệp. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng cho cư dân theo vị trí địa lý đai cao dưới 800m, trong khi du khách được chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện tại các điểm dừng chân.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính xuất phát từ tính chất phức tạp của việc đánh giá tương quan giữa sức chứa môi trường và biến động kinh tế:

  • Đánh giá độ hấp dẫn du lịch sinh thái thông qua chỉ số TAM (Tourists’ Attractive Measure) theo công thức TAM = 1/10 (A - B) do Lea.J đề xuất năm 1998 để định lượng các yếu tố gia tăng (A) và yếu tố suy giảm (B) sức hút điểm đến.
  • Phân tích chuỗi số liệu thời gian 5 năm (2009 – 2013) để xác định chỉ số thời vụ (Ij) theo từng tháng, làm rõ quy luật tập trung khách.
  • Tính toán sức chứa sinh thái tối đa trong ngày ($C_{st max} = (A/a) \times (T/t)$) để kiểm soát ngưỡng chịu tải vật lý và sinh học của các tuyến đường mòn trong rừng đặc dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên tại Bà Nà – Núi Chúa có tính đa dạng sinh thái vượt trội với 793 loài thực vật thuộc 134 họ và 298 loài động vật có xương sống, trong đó có nhiều loài đặc hữu quý hiếm như Vọoc chà vá chân nâu, Vượn Siki, Gà lôi lam mào trắng. Tuy nhiên, tính nguyên sơ đang suy giảm nghiêm trọng ở đai cao trên 800m do các hoạt động san ủi, bê tông hóa phục vụ hạ tầng nghỉ dưỡng. Khu vực bảo tồn tốt nhất hiện chỉ còn tập trung tại các tiểu khu 47, 51 (xã Hòa Ninh) và tiểu khu 42, 52 (xã Hòa Phú).

Thứ hai, kết quả kinh doanh du lịch tăng trưởng vượt bậc nhưng thiếu bền vững và mất cân đối cơ cấu. Sau 5 năm tập đoàn Sun Group đầu tư (2009 – 2013), tổng lượt khách tăng hơn 2 lần từ 276.042 lượt lên hơn 600.000 lượt, doanh thu tăng gấp 4 lần. Năm 2012 ghi nhận sự bùng nổ khi doanh thu tăng 221,26% so với năm 2011. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế năm 2009 chỉ đạt 13.115 lượt (chiếm 4,75%), tăng lên 40.766 lượt vào năm 2012 nhưng giảm nhẹ còn 39.115 lượt vào năm 2013 do tiếng ồn và ô nhiễm từ các đại công trường xây dựng.

Thứ ba, mức độ hiểu biết của du khách về giá trị sinh thái của khu bảo tồn ở mức báo động. Khảo sát chỉ ra 91,9% khách nội địa và 66,7% khách quốc tế đến Bà Nà vì mục đích tham quan giải trí thuần túy. Đáng chú ý, chỉ có 9,1% du khách nội địa và 25,0% du khách quốc tế biết rằng điểm đến này là một Khu Bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Thứ tư, vai trò của cộng đồng địa phương xã Hòa Ninh và Hòa Phú hoàn toàn mờ nhạt, chỉ dừng lại ở mức tham gia thụ động hoặc cung cấp lao động phổ thông thời vụ. Người dân địa phương chưa được hưởng lợi trực tiếp từ nguồn thu du lịch lớn, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích và gia tăng áp lực khai thác lâm sản trái phép.

Thảo luận kết quả

Biến động dòng khách tại Bà Nà chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố khí hậu. Đồ thị chỉ số thời vụ qua 5 năm (2009 – 2013) thể hiện rõ sự phân hóa sâu sắc giữa hai mùa: mùa cao điểm từ tháng 5 đến tháng 8 với chỉ số đạt đỉnh vào tháng 7 (hệ số 2,131) và tháng 6 (hệ số 1,541); trong khi mùa thấp điểm rơi vào các tháng mưa bão cuối năm từ tháng 9 đến tháng 12 với chỉ số thấp nhất vào tháng 11 (hệ số 0,529) và tháng 10 (hệ số 0,569).

Bảng phân tích độ hấp dẫn du lịch sinh thái TAM cho thấy các chỉ số về cảnh quan, tầm nhìn bao quát biển và khí hậu 4 mùa trong ngày đạt điểm tuyệt đối từ 8,5 đến 9,5 điểm. Ngược lại, các yếu tố gây mất điểm nghiêm trọng gồm: tiếng ồn từ khu giải trí Fantasy Park, rác thải sinh hoạt, tình trạng thương mại hóa và sự thiếu vắng các bảng hướng dẫn diễn giải môi trường chuyên biệt.

So sánh với các mô hình quốc tế thành công như Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia) với cơ chế trích 30% lương cho cộng đồng và 15% vào quỹ bảo tồn, hay Vườn quốc gia Annapurna (Nepal), mô hình hiện tại ở Bà Nà đang rơi vào kịch bản Thua – Thắng. Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tài chính ngắn hạn cao nhưng hệ sinh thái chịu tác động tiêu cực lâu dài và cộng đồng bản địa chịu thiệt thòi về không gian sinh kế. Việc chuyển dịch sang mô hình du lịch sinh thái có sự tham gia cộng đồng là yêu cầu cấp thiết để đưa quan hệ này về trạng thái Thắng – Thắng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch và đưa vào vận hành 3 tuyến du lịch sinh thái chuyên đề có sự tham gia của cộng đồng bản địa trước quý 4 năm 2016:

  • Tuyến 1: Chinh phục đường đèo và khám phá hệ động thực vật Bà Nà ở đai cao dưới 800m.
  • Tuyến 2: Khám phá sinh cảnh chim và động vật hoang dã dọc theo tuyến con đường chim Khướu.
  • Tuyến 3: Đi bộ dã ngoại xuyên rừng nguyên sinh chinh phục đỉnh Núi Chúa ở độ cao 1.487m.

Thứ hai, thiết lập cơ chế điều tiết và phân chia lợi nhuận minh bạch giữa các bên liên quan. Đề xuất trích tỷ lệ 10% đến 15% tổng doanh thu bán vé tham quan du lịch sinh thái vào Quỹ phát triển cộng đồng xã Hòa Ninh và Hòa Phú, cùng 10% đóng góp trực tiếp vào Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng của Ban Quản lý. Cơ chế này nhằm hỗ trợ vốn vay chuyển đổi sinh kế cho 300 hộ dân vùng đệm trong thời gian 24 tháng.

Thứ ba, triển khai chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch sinh thái cộng đồng định kỳ hàng quý. Tổ chức đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên địa phương, kỹ năng thuyết minh diễn giải môi trường, sơ cứu rừng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho ít nhất 150 lao động bản địa tại hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú, do Sở Du lịch phối hợp với các trường đại học chuyên ngành thực hiện.

Thứ tư, áp dụng quy chuẩn kiểm soát sức chứa sinh thái tối đa ($C_{st max}$) và quản trị rủi ro môi trường. Giới hạn quy mô mỗi đoàn du khách đi bộ xuyên rừng không vượt quá 15 – 20 người/đoàn với khoảng cách tối thiểu giữa các đoàn là 45 phút. Lắp đặt 100% hệ thống biển báo giáo dục môi trường bằng hai ngôn ngữ Việt – Anh tại tất cả các điểm dừng chân sinh thái trước năm 2017. Chủ thể chịu trách nhiệm triển khai là Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Ban Quản lý Khu bảo tồn, chính quyền huyện Hòa Vang và các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và du lịch (Sở Du lịch Đà Nẵng, Chi cục Kiểm lâm, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa). Tài liệu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch phân khu chức năng, kiểm soát giới hạn tải sinh thái và xây dựng quy chế quản lý rừng đặc dụng bền vững.

Nhóm 2: Doanh nghiệp du lịch và các tập đoàn phát triển hạ tầng (Tập đoàn Sun Group, các công ty lữ hành quốc tế và nội địa). Tài liệu giúp các nhà đầu tư nhận diện rủi ro môi trường, chuyển hướng phát triển sản phẩm du lịch có trách nhiệm và thiết kế các tour sinh thái bổ trợ để giảm tải cho hệ thống cáp treo.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Du lịch, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận định lượng chỉ số TAM, kỹ thuật tính toán sức chứa sinh thái và khung lý thuyết du lịch cộng đồng áp dụng vào bối cảnh Việt Nam.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) bảo tồn thiên nhiên và đại diện cộng đồng địa phương hai xã Hòa Ninh, Hòa Phú. Công trình cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn để bảo vệ quyền lợi cộng đồng, đàm phán cơ chế chia sẻ lợi ích và xây dựng dự án sinh kế bền vững gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn Bà Nà – Núi Chúa khác gì so với mô hình du lịch giải trí hiện tại? Du lịch sinh thái tập trung vào việc tìm hiểu, trải nghiệm các hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới còn hoang sơ ở độ cao 1.487m với quy mô nhỏ, có diễn giải môi trường và trích doanh thu bảo tồn. Ngược lại, mô hình hiện tại chủ yếu là du lịch giải trí nhân tạo và nghỉ dưỡng đại chúng quy mô lớn với công suất cáp treo đạt tới 18.000 khách/ngày.

Tại sao sự tham gia của cộng đồng xã Hòa Ninh và Hòa Phú lại mang tính quyết định? Cộng đồng địa phương là chủ thể trực tiếp sinh sống tại vùng đệm và chịu tác động của việc mất đất canh tác. Khi người dân được tham gia cung ứng dịch vụ, làm hướng dẫn viên và nhận 10% đến 15% lợi ích từ quỹ du lịch, họ sẽ tự giác chuyển từ hành vi khai thác rừng sang bảo vệ 17.641 ha rừng đặc dụng.

Luận văn đã tham khảo những mô hình chia sẻ lợi ích quốc tế tiêu biểu nào? Tác giả đã kế thừa kinh nghiệm từ Vườn quốc gia Gunung Halimun tại Indonesia với cơ cấu phân bổ 30% lương cộng đồng, 15% quỹ phát triển làng xã và 10% phí bảo tồn; cùng mô hình Vườn quốc gia Annapurna tại Nepal huy động thành công người dân địa phương tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ đi bộ leo núi.

Công thức sức chứa sinh thái được ứng dụng như thế nào trong nghiên cứu? Nghiên cứu sử dụng công thức $C_{st max} = (A/a) \times (T/t)$ dựa trên diện tích đường mòn tự nhiên, thời gian mở cửa điểm tham quan và định mức không gian tối thiểu của một du khách. Kết quả này giúp xác định ngưỡng chịu tải của từng tiểu khu rừng, ngăn chặn tình trạng quá tải du khách làm suy thoái thảm thực vật.

Làm thế nào để khắc phục tính mùa vụ du lịch nghiêm trọng tại Bà Nà? Tác giả đề xuất phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái chuyên đề mùa mưa như ngắm thác nước (thác Tóc Tiên, thác Cầu Vồng), tìm hiểu thực vật rừng nhiệt đới có mái che sinh thái, đồng thời áp dụng chính sách giá ưu đãi trong các tháng thấp điểm từ tháng 9 đến tháng 12 (khi hệ số thời vụ chỉ đạt 0,529).

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng, đồng thời đánh giá chính xác hiện trạng 17.641 ha rừng đặc dụng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa.
  • Nghiên cứu chỉ rõ nghịch lý giữa sự tăng trưởng doanh thu vượt bậc gấp 4 lần giai đoạn 2009 – 2013 với sự suy giảm tính nguyên sơ của hệ sinh thái và sự thụ động của cư dân bản địa.
  • Công trình đã lượng hóa thành công các chỉ số độ hấp dẫn du lịch sinh thái TAM, xác định hệ số biến thiên thời vụ Ij và ngưỡng sức chứa sinh thái phục vụ quản lý điểm đến.
  • Tác giả đề xuất xây dựng hoàn chỉnh 3 tuyến du lịch sinh thái mới và thiết lập cơ chế phân chia lợi nhuận với 10% đến 15% doanh thu dành cho quỹ cộng đồng hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú.
  • Lộ trình thực hiện khuyến nghị chia làm hai giai đoạn từ năm 2015 đến 2017 với trọng tâm là đào tạo 150 lao động bản địa và ban hành quy chế đồng quản lý tài nguyên.

Công trình là tài liệu học thuật giá trị, kêu gọi các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu chung tay hành động vì mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch bền vững tại thành phố Đà Nẵng.