Đặt vấn đề Vùng sinh thái dãy Trƣờng Sơn đã đƣợc công nhận là một cảnh quan ƣu tiên vì các giá trị sinh học toàn cầu nổi trội, có mức đe dọa cao và có nhu cầu rất lớn đối với hành động bảo tồn. Tiểu vùng miền Trung của khu vực dãy Trƣờng Sơn ở Việt Nam đƣợc biết là cảnh quan Trung Trƣờng Sơn, kéo dài từ Tây Lào đến miền Trung Việt Nam, và là một khu vực tồn tại nhƣ một vùng cảnh quan liên tục bất chấp những biến động khí hậu trƣớc đây. Điều này đã khuyến khích cao sự biệt hóa và đặc hữu. Một số lƣợng đáng kể các loài có tầm quan trọng toàn cầu, bao gồm Vooc Chà vá chân xám, Khƣớu vằn đầu đen, và Dẻ Tùng Nam., đang bị đe dọa, đƣợc biết là chỉ có ở trong khu vực cảnh quan Trung Trƣờng Sơn.
Bảo vệ và duy trì càng nhiều càng tốt các khu rừng tự nhiên còn sót lại và khôi phục, mở rộng môi trƣờng đƣợc coi là cần thiết để bảo tồn đa dạng sinh học phong phú và quan trọng trên toàn cầu còn lại trong khu vực. Trong cảnh quan Trung Trƣờng Sơn, hầu hết các khu rừng tự nhiên vẫn nằm trong và xung quanh các khu bảo tồn và cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng từ các hoạt động phát triển kinh tế và sản xuất nông lâm nghiệp và sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng của ngƣời dân địa phƣơng. Do đó, cần có những nỗ lực bảo tồn nhằm vào việc bảo vệ, quản lý và phục hồi tài nguyên rừng, cảnh quan quan trọng trong các khu bảo tồn trong khu vực và vùng đệm với các hành lang đa dạng sinh học để tạo thành một cảnh quan rộng lớn hơn và hiệu quả hơn nhằm tiếp tục bảo vệ và duy trì nguồn đa dạng sinh học phong phú, các dịch vụ hệ sinh thái, vùng đầu nguồn,nâng cao trữ lƣợng carbon và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu ở cấp độ cảnh quan. Khu BTTN Ngọc Linh nằm trong quy hoạch 11 Khu bảo tồn thiên nhiên của khu vực vùng Nam Trung Bộ.
BQL Khu BTTN Ngọc Linh đƣợc thành lập vào tháng 4 năm 2016. Hiện trạng quản lý đa dạng sinh học, nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên văn hoá trong khu vực nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung còn nhiều tồn tại dẫn đến các nguồn tài nguyên ở các khu vực này vẫn đang trên đà suy giảm. Các kiểu rừng đặc trƣng nhƣ rừng nhiệt đới thƣờng xanh ở vùng đất thấp đang bị thu hẹp và trở nên rất hiếm, nhiều loài động, thực vật ở trong vùng đang đứng trƣớc nguy cơ đe dọa. Khu vực nghiên cứu để đề xuất giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng là nơi phân bố quan trọng của loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) và Khƣớu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis): Là loài cây dƣợc liệu quí có nhiều công dụng trong chữa bệnh chăm sóc sức khỏe con ngƣời, có giá rất cao trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế và là loài chim đặc hữu của khu vực cao nguyên Kon Tum của Việt Nam.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Việc đề xuất giải pháp quy hoạch Khu BTTN Ngọc Linh nhằm quản lý bảo vệ, phát triển đƣợc các hệ sinh thái tiêu biểu rừng nhiệt đới với một phức hệ đa dạng, phong phú của sinh vật cũng nhƣ các giá trị tự nhiên khác,đặc biệt hơn nữa là sự cần thiết phải bảo tồn các loài động, thực vật đặc hữu, quý hiếm có giá trị bảo tồn và giá trinh kinh tế cao, hoàn thiện hơn trong chức năng phòng hộ rừng đầu nguồn. Quy hoạch Khu BTTN Ngọc Linh sẽ tạo cơ hội đem lại nguồn lợi trực tiếp thông qua các dịch vụ du lịch của tỉnh, thúc đẩy sự giao lƣu văn hoá của địa phƣơng, thu hút các dự án trong nƣớc cũng nhƣ Quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng đệm, tạo việc làm cho ngƣời dân địa phƣơng. Xuất phát từ sự cần thiết trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng của Khu BTTN Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam” Nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học, phục vụ cho tiến trình ra quyết định Quy hoạch Khu bảo tồn của các cấp có thẩm quyền, với mục tiêu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Mục tiêu của đề tài 2.
Mục tiêu chung Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu, đề xuất đƣợc các giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng của Khu BTTN Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam, nhằm tăng cƣờng hiệu quả công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững, đồng thời hỗ trợ và nâng cao sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. - Nghiên cứu đánh giá đƣợc hiện trạng tài nguyên rừng, thực trạng quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng ở khu vực nghiên cứu. - Đề xuất đƣợc các giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng của Khu BTTN Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam.
- Nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng bền vững và hỗ trợ nâng cao sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học - Đề xuất các giải phápquy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng của Khu BTTN Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam là khung lôgich về các hoạt động của Khu bảo tồn và làm cơ sở để Khu bảo tồn lập các kế hoạch thực hiện tốt các nhiệm vụ đƣợc giao. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 - Các giải pháp quy hoạch đƣợc xây dựng và thực hiện sẽ bảo vệ đƣợc nguồn tài nguyên đa dạng sinh học bao gồm các loài động, thực vật, đặc biệt là các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu, các hệ sinh thái, cũng nhƣ các nguồn gen cho hiện tại và cả tƣơng lai.
Nâng cao đƣợc ý thức của ngƣời dân về công tác bảo tồn, thu hút mọi thành phần trong xã hội nhất là các cộng đồng ngƣời dân địa phƣơng cùng tham gia công tác bảo vệ rừng và tạo điều kiện nâng cao đời sống của ngƣời dân sống xung quanh Khu bảo tồn. - Các giải pháp quy hoạch đƣợc xây dựng và thực hiện sẽ góp phần bảo vệ tốt vùng đầu nguồn của hệ thống sông Tranh, các suối bắt nguồn từ các dãy núi quanh đỉnh Ngọc Linh, một số suối lớn nhƣ: Nƣớc Nô, Nƣớc Pi, Nƣớc Na, Nƣớc Mua, Nƣớc Leng, Nƣớc Biêu, Nƣớc Sú., cung cấp nƣớc chủ yếu cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Bảo tồn các cảnh quan, các di tích lịch sử, tăng cƣờng hoạt động du lịch, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam. Ý nghĩa thực tiễn - Bảo vệ đƣợc các mẫu rừng nhiệt đới ở khu vực Trung Trƣờng Sơn.
Trong đó, tồn tại mẫu rừng có loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv), và Khƣớu Ngọc Linh (Garrulax ngoclinhensis) là loài đặc hữu Việt Nam mới chỉ tìm thấy ở khu vực này. - Bảo vệ, phục hồi và phát triển đƣợc hệ động, thực vật phong phú điển hình nhất phân bố ở các vùng núi cao của Việt Nam. - Bảo vệ các nguồn gen quí hiếm, đặc hữu của nhiều loài động, thực vật nằm trong sách của Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, đây là nơi phát hiện đƣợc các loài đặc hữu nhƣ Khƣớu Ngọc Linh, Sâm Ngọc Linh… chúng là các loài hiện đang bị đe doạ ở cấp quốc gia và quốc tế và là mối quan tâm trong công tác bảo tồn.
- Duy trì và nâng cao độ che phủ của rừng trong khu vực, duy trì và tăng cƣờng đƣợc chức năng phòng hộ đầu nguồn các con sông, suối trong khu vực đầu nguồn. - Bảo vệ đƣợc những giá trị tài nguyên sinh thái tiềm năng cho chiến lƣợc phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Quảng Nam cũng nhƣ của Việt Nam. - Đảm bảo cho một hiện trƣờng ổn định cho công tác nghiên cứu khoa học về các mặt địa chất, thổ nhƣỡng, quá trình hình thành vỏ trái đất, khảo cổ, đa dạng sinh học, dân tộc học. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống Khu BTTN 1. Khu bảo tồn thiên nhiên và Công ước Đa dạng sinh học Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội.
Đa dạng sinh học ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con ngƣời. Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng. - Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994) Trong vài thập kỷ qua, các khu BTTN trên thế giới đang có xu hƣớng tăng cả về số lƣợng và diện tích. Theo tạp chí Khu BTTN, Tập 14, số 3, năm 2004, trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới.
Vƣờn quốc gia chiếm số lƣợng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà khu BTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. - Công ƣớc ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ”.