Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai" do sinh viên La Thanh Hiền thực hiện (ngành Văn hóa Du lịch, Khóa 14 giai đoạn 2008 – 2012, Trường Đại học Dân lập Đông Đô dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh). Đề tài xuất phát từ vị trí của ngành du lịch trong nền kinh tế thế giới và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt trong tiến trình Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Lào Cai là địa bàn miền núi có điều kiện tự nhiên đa dạng, trong đó Sa Pa giữ vai trò trọng điểm nhờ khí hậu ôn hòa quanh năm, địa hình núi cao và tính đa dạng văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Xuất phát từ thực tiễn địa phương và kinh nghiệm của tác giả tại quê hương, khóa luận tập trung phân tích tiến trình tăng trưởng du lịch cùng các vấn đề phát sinh trong hoạt động thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch Sa Pa, từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn của địa phương.
  2. Đánh giá ảnh hưởng và tác động của hoạt động du lịch Sa Pa tới đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn.
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch Sa Pa, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và cộng đồng dân tộc thiểu số, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho du khách.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động du lịch, mức độ tác động của du lịch tới khách tham quan và cộng đồng các dân tộc cư trú tại Sa Pa; đối tượng khách du lịch nội địa và quốc tế tại điểm đến Sa Pa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai; tập trung vào khu vực trung tâm thị trấn Sa Pa cùng các tuyến điểm bản làng trọng điểm thuộc các xã lân cận như San Sả Hồ (bản Cát Cát), Tả Van, Tả Phìn, Bản Hồ, Nậm Sài và Thanh Kim.
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận sử dụng các tư liệu lịch sử từ đầu thế kỷ 20, tập trung vào số liệu thực trạng giai đoạn 1996 – 2010 và các chỉ tiêu định hướng phát triển đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuyên ngành du lịch học và cơ sở pháp lý của Nhà nước Việt Nam:

  • Khái niệm du lịch và khách du lịch: Khóa luận viện dẫn định nghĩa về du lịch là hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí trong khoảng thời gian xác định; viện dẫn Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 để phân định khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
  • Khái niệm sản phẩm du lịch: Tiếp cận theo góc độ marketing (tập hợp hàng hóa, dịch vụ cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và mua sắm của khách) và theo Điều 4 Chương I Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 ("Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch"), đồng thời phân định thành hai nhóm: sản phẩm vật chất (hữu hình) và sản phẩm phi vật chất (vô hình, trải nghiệm tinh thần).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập và hệ thống hóa thông tin thứ cấp từ sách báo, niên giám, cổng thông tin truyền thông, báo cáo thống kê của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức chuyên môn.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại các điểm danh lam thắng cảnh, tuyến du lịch và các thôn bản của đồng bào dân tộc thiểu số tại Sa Pa nhằm quan sát hiện trạng sinh hoạt và kinh doanh du lịch.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý, phân loại các dữ liệu định lượng về cơ cấu dân cư, lượng khách, doanh thu và cơ sở vật chất kỹ thuật.
  • Phương pháp phân tích: Đối chiếu các số liệu thu thập được để nhận diện các quy luật biến động, mâu thuẫn thực tiễn và cơ hội phát triển.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, số liệu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, các văn bản quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sa Pa và dữ liệu quan sát thực tế của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Chương này thiết lập khung lý luận về kinh tế du lịch và phác họa tổng quan điều kiện địa lý, tự nhiên, nhân văn của huyện Sa Pa. Nằm ở độ cao trung bình 1.600 m so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và cách Hà Nội 376 km qua Quốc lộ 4D, Sa Pa mang sắc thái khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình năm là 15°C; mùa hè dao động 13°C – 15°C vào ban đêm và 20°C – 25°C vào ban ngày; mùa đông có mây mù, nhiệt độ có lúc giảm xuống dưới 0°C và có hiện tượng tuyết rơi (ghi nhận 14 đợt tuyết trong giai đoạn 1971 – 2008, trong đó đợt ngày 13/02/1968 tuyết dày tới 20 cm).

Tài nguyên thiên nhiên Sa Pa sở hữu 32.878,7 ha đất lâm nghiệp có rừng (rừng tự nhiên chiếm 28.010,8 ha). Vườn Quốc gia Hoàng Liên là khu vực có tính đa dạng sinh học cao với 136 loài chim, 56 loài thú (trong đó 37 loài ghi tên trong Sách đỏ Việt Nam), 553 loài côn trùng và 864 loài thực vật (có 173 loài cây thuốc).

Về phương diện nhân văn, dân số trung bình năm 2005 của huyện là 43.600 người, cư trú trên 17 xã và 1 thị trấn, bao gồm 7 dân tộc chính với các đặc trưng văn hóa riêng biệt:

Dân tộc Tỷ lệ dân số (%) Địa bàn cư trú chính Nét văn hóa và sinh kế tiêu biểu
H'Mông (H'Mông Đen) 54,9% Cát Cát (San Sả Hồ), Sa Pả, Lao Chải, Séo Mý Tỷ, Tả Giàng Phình Ruộng bậc thang canh tác lúa nước; lễ hội Gầu Tào (12 tháng Giêng); trang phục nhuộm chàm viền sáp ong; ẩm thực thắng cố.
Dao (Dao Đỏ) 25,6% Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải Nghề trồng thảo quả, ngô; lễ cấp sắc, Tết nhảy (mùng 1 - 2 tháng Giêng); chữ Nôm Dao; bài thuốc tắm lá rừng.
Kinh 13,6% Thị trấn Sa Pa Nông nghiệp và dịch vụ thương mại, du lịch.
Tày 3,0% Bản Hồ, Nậm Sài, Thanh Phú Nhà sàn ven suối; hát lượn, hát then; lễ hội Lồng Tồng (rằm tháng Giêng); nghề dệt thổ cẩm.
Giáy 1,6% Tả Van, Lao Chải Canh tác lúa tẻ thung lũng; lễ hội Roóng Poọc (ngày Thìn tháng Giêng); nhà nền đất có gác lửng.
Xa Phó (Phù Lá) < 1,3% Xã Nậm Sài Ngữ hệ Miến - Tạng; cư trú nhà sàn hẻo lánh; nghề dệt vải bông và đan lát mây tre.
Hoa < 1,3% Phân bố rải rác Hoạt động sản xuất và buôn bán nhỏ.

Chương 1 cũng điểm qua các sản vật địa phương như rượu táo mèo, lợn cắp nách (trọng lượng 4 - 5 kg), nấm hương rừng khô (giá thị trường thời điểm khảo sát khoảng 50.000 đồng/túi 0,5 kg), rau su su (diện tích 800 ha cung ứng hàng chục nghìn tấn mỗi năm). Ngoài ra, các tiềm năng du lịch nhân văn gồm bãi đá cổ Sa Pa (được nhà khảo cổ Glubev thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ phát hiện năm 1925 với gần 200 khối đá khắc hình tại thung lũng Mường Hoa, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1994) và chương trình liên kết du lịch "Về cội nguồn" giữa ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Sa Pa

Chương 2 trình bày hiện trạng cơ sở hạ tầng, các dịch vụ du lịch, các loại hình sản phẩm và đánh giá tác động hai mặt của hoạt động du lịch tại địa bàn:

  1. Khả năng khai thác các dịch vụ du lịch:
  • Vận chuyển: Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai vận hành các chuyến SP1, SP2, SP3, Ratraco, Tulico. Tháng 9/2007, Công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại Liên Việt (Livetrans) khai thác đoàn tàu Livitrans Express với 1 toa VIP (6 khoang, 4,2 m²/khoang, 2 giường nằm tiêu chuẩn cao) và 6 toa Tourist (7 khoang, 3,6 m²/khoang, 4 giường nằm). Đường bộ sử dụng các dòng xe 4 đến 45 chỗ đời mới (đăng ký các năm 2004 - 2007 như Land Cruiser, Everest, Zace, Innova). Tại thị trấn có dịch vụ cho thuê xe máy (Minsk, Wave giá 75.000 đồng/ngày tự đổ xăng hoặc 100.000 đồng/ngày bao xăng) và đội ngũ xe ôm phục vụ tại các điểm dốc như bản Cát Cát.
  • Lưu trú: Huyện có khoảng 60 cơ sở lưu trú với quy mô gần 2.000 phòng. Các khách sạn tiêu biểu gồm: Victoria Sa Pa Resort; Bamboo Sa Pa (3 sao, 45 phòng); Sa Pa Golden Sea (3 sao, 34 phòng); Khách sạn Thiên Ngân (2 sao, 20 phòng); Khách sạn Ngôi Sao Sa Pa (2 sao, nhà hàng phục vụ 200 khách); Khách sạn Châu Long (23 phòng, có bể bơi nước ấm).
  • Dịch vụ hướng dẫn và nhân lực: Địa bàn có 25 công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện lữ hành. Từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu, ngành du lịch đã tạo việc làm cho hơn 4.200 lao động.
  1. Các loại hình du lịch chủ yếu:
  • Du lịch nghỉ dưỡng: Bắt nguồn từ khảo sát năm 1903 của Sở Địa lý Đông Dương; năm 1909 Công sứ Toures chính thức đề xuất lập trạm điều dưỡng. Giai đoạn 1920 – 1940 hình thành các khách sạn Fansipan, Vaumousse, Morellon, Metropole và gần 30 biệt thự. Năm 2004, Trường Đại học Bordeaux (Pháp) hỗ trợ lập bản quy hoạch Sa Pa theo 3 trục không gian. Để bảo vệ môi trường nghỉ dưỡng, chính quyền địa phương ban hành mức phạt 100.000 đồng đối với hành vi vứt rác, gây ô nhiễm.
  • Du lịch văn hóa bản làng: 5 xã thành lập ban quản lý du lịch gồm San Sả Hồ, Bản Hồ, Tả Van, Tả Phìn. Nhờ Câu lạc bộ thổ cẩm có sự hỗ trợ của UNESCO, xã Tả Phìn giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 20%, có 2 thôn (Sả Xéng và Tả Chải) đạt chuẩn Làng văn hóa. Tại thôn Tả Van Giáy có khoảng 20 hộ dân nâng cấp nhà ở phục vụ lưu trú (homestay). Dữ liệu 8 tháng đầu năm 2006 ghi nhận 32.977 lượt khách quốc tế thăm các bản làng; trong đó 7.429 khách lưu trú tại Tả Van và 2.674 khách lưu trú tại Bản Dền (xã Bản Hồ). Trong tháng 8 và đầu tháng 9, có 4.500 lượt khách nội địa đến thăm Tả Phìn.
  • Du lịch đi bộ mạo hiểm (Trekking tour): Khai thác khoảng 10 tuyến, trong đó 6 tuyến nằm trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tiêu biểu là tuyến leo đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143 m).
Động cơ của khách du lịch Khách nội địa (%) Khách quốc tế (%)
Tham gia Trekking tour 3% 41%
Khí hậu và nghỉ ngơi 96% 9%
Cảnh quan thiên nhiên 82% 92%
Thăm bản làng dân tộc thiểu số 57% 84%
  • Du lịch sinh thái: Tác giả nhấn mạnh dự án du lịch sinh thái tại xã Thanh Kim với vốn đầu tư 1 triệu USD do Công ty TNHH Phú Thịnh liên doanh với Tập đoàn Fuldal Holding (Đan Mạch) khởi công năm 2003.
  • Các điểm tham quan trọng điểm: Đỉnh Phan Xi Păng (3.143 m); núi Hàm Rồng; Thác Bạc (độ cao trên 100 m); Nhà thờ đá Sa Pa (khuôn viên hơn 6.000 m², nhà thờ 7 gian rộng hơn 500 m², tháp chuông cao 20 m đúc năm 1932 nặng 500 kg); làng Cát Cát (nghề rèn bạc, tục kéo vợ của người H'Mông); bản Tả Van (40 hộ làm du lịch); bãi đá cổ Sa Pa diện tích 8 km².
  1. Đánh giá tác động, thuận lợi và khó khăn:
  • Tác động tích cực: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, nâng cấp đường giao thông liên xã và hạ tầng điện lưới (đưa điện lưới quốc gia về năm 1994, phủ sóng điện thoại di động 100% xã năm 2000). Chương trình "Về cội nguồn" năm 2009 đưa tổng lượng khách 3 tỉnh đạt hơn 1,3 triệu lượt (tăng 6% so với 2008), doanh thu đạt 1.128 tỷ đồng (tăng 8,3%); năm 2010 đón trên 6 triệu lượt khách.
  • Tác động tiêu cực: Phân hóa thu nhập gia tăng giữa các nhóm dân cư; xuất hiện hiện tượng phụ nữ và trẻ em bỏ học bán hàng rong chèo kéo khách; sinh hoạt giao duyên của người H'Mông, Dao tối thứ Bảy ("chợ tình") bị du khách tập trung quá đông dẫn đến hiện tượng thương mại hóa và làm biến dạng sinh hoạt truyền thống.
  • Khó khăn nội tại: Khoảng 60% lực lượng lao động du lịch chưa qua đào tạo chuyên ngành; sản phẩm thủ công truyền thống bị cạnh tranh bởi thổ cẩm dệt công nghiệp; tình trạng xả rác bừa bãi và khai thác trái phép lâm sản, phong lan trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên.

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở Sa Pa - Lào Cai

Chương 3 xây dựng các quan điểm phát triển bền vững: gắn kinh tế du lịch với bảo vệ môi trường, hướng tới phân khúc khách có mức chi trả cao, bảo đảm an ninh trật tự và chia sẻ lợi ích với cộng đồng bản địa.

Tác giả dẫn chiếu số liệu dự báo phát triển ngành du lịch tỉnh Lào Cai và địa bàn Sa Pa do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch công bố:

Chỉ tiêu phát triển Đơn vị tính Thực hiện / Cơ sở Mục tiêu 2010 Dự báo 2020
Lượng khách quốc tế Lượt khách - 440.000 -
Lượng khách nội địa Lượt khách - 280.000 -
Tổng thu từ du lịch Tỷ đồng - 784 3.538
Lao động trực tiếp Người 600 (năm 2000) / 1.200 (năm 2005) 1.200 -
Lao động gián tiếp ngoài xã hội Người 500 (năm 2000) / 3.600 (năm 2005) 3.600 -

Hệ thống giải pháp được khóa luận đề xuất gồm ba nhóm chính:

  1. Giải pháp về cơ chế, chính sách: Quản lý chặt chẽ quy hoạch đô thị để ngăn chặn nguy cơ phá vỡ cảnh quan sinh thái; xây dựng cơ chế giám sát các dự án xây dựng ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên; ban hành chính sách phân phối lại lợi ích từ hoạt động du lịch cho cộng đồng cư dân sở tại.
  2. Giải pháp về bảo vệ môi trường và hệ sinh thái rừng: Tăng cường tuần tra, quản lý nghiêm ngặt các phân khu bảo vệ của Vườn Quốc gia Hoàng Liên; triển khai trồng rừng phủ xanh đồi trọc gắn với tour du lịch trồng cây; lập Vườn thực vật bảo tồn nguồn gen quý hiếm; quy hoạch và ổn định các điểm dân cư vùng đệm và vùng lõi; duy trì chế tài xử phạt hành chính đối với các vi phạm môi trường.
  3. Giải pháp về văn hóa - du lịch: Xây dựng các đội văn nghệ thôn bản, phục dựng các lễ hội truyền thống nguyên bản; tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp lữ hành với các hộ dân kinh doanh homestay; mở các lớp tập huấn kỹ năng phục vụ, buồng, bàn, bar và bồi dưỡng ngoại ngữ cho người dân các xã Chương trình 135 và vùng 160. Toàn tỉnh Lào Cai đẩy mạnh mô hình nhà văn hóa cộng đồng (đã có 678 nhà văn hóa được xây dựng, lập hồ sơ khoa học cho 38 làng tiêu biểu của 13 dân tộc với 25 nhóm ngành, khảo sát tập quán của 15 nhóm ngành với trên 100 phong tục).

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp toàn diện thực trạng phát triển du lịch Sa Pa: Khóa luận hệ thống hóa được các số liệu kinh tế - kỹ thuật của hệ thống hạ tầng du lịch tại Sa Pa giai đoạn 2004 – 2010, bao gồm mạng lưới đường sắt (Livitrans Express), năng lực của 60 cơ sở lưu trú và 25 doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn.
  • Phân tích sự khác biệt về hành vi du khách: Tác giả đưa ra số liệu điều tra chứng minh sự phân hóa rõ nét về động cơ giữa hai luồng khách: khách nội địa ưu tiên nghỉ dưỡng (96%) và thưởng ngoạn khí hậu, trong khi chỉ 3% tham gia trekking; ngược lại, khách quốc tế có tỷ lệ tham gia trekking tour lên tới 41% và thăm bản làng đạt 84%.
  • Đánh giá cụ thể mô hình du lịch bản làng: Khóa luận phản ánh số liệu thực tế tại các điểm làng văn hóa du lịch (32.977 lượt khách quốc tế thăm bản làng trong 8 tháng đầu năm 2006; mô hình dệt thổ cẩm có UNESCO hỗ trợ giúp Tả Phìn hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 20%).
  • Đóng góp giải pháp gắn với bảo tồn văn hóa và môi trường: Tác giả chỉ ra các nguy cơ hiện hữu từ sự biến tướng của chợ tình, rác thải leo núi Phan Xi Păng, xâm lấn của vải công nghiệp và đề xuất các giải pháp liên ngành: kết hợp bảo tồn nguồn gen tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên với chính sách sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận phản ánh một số khó khăn về nguồn số liệu, cụ thể là dữ liệu thống kê đối với khách du lịch nội địa đi tự túc, đi lẻ đến các bản làng chưa được ghi nhận đầy đủ (như tác giả đã lưu ý ở trường hợp bản Tả Phìn và Bản Dền). Phương pháp khảo sát động cơ du khách chủ yếu xử lý theo tỷ lệ phần trăm mô tả, chưa áp dụng các mô hình hồi quy đa biến phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi biến động chỉ tiêu khách và doanh thu sau giai đoạn 2010; đánh giá sâu hơn sức chứa du lịch (carrying capacity) tại các tuyến trekking trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên và phân tích hiệu quả kinh tế thực tế của các mô hình homestay khi mở rộng sang các xã vùng sâu (Chương trình 135 giai đoạn 2).

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học: Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp khảo sát tài nguyên du lịch địa phương, kỹ thuật mô tả tập quán dân tộc học gắn với sản phẩm du lịch bản làng và cấu trúc hoàn chỉnh của một khóa luận tốt nghiệp hệ cử nhân.
  • Đối với cán bộ nghiên cứu và quản lý điểm đến: Khóa luận cung cấp các tư liệu lịch sử có giá trị về quá trình quy hoạch nghỉ dưỡng Sa Pa thời Pháp thuộc (từ năm 1903 đến 1943) và bài học kinh nghiệm về quản lý mâu thuẫn giữa đô thị hóa với bảo tồn bản sắc văn hóa vùng cao Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận cơ cấu dân số của các dân tộc chính tại huyện Sa Pa như thế nào? Theo số liệu thống kê năm 2005 được nêu trong Chương 1, huyện Sa Pa có dân số trung bình 43.600 người thuộc 7 dân tộc chính: H'Mông chiếm 54,9%, Dao chiếm 25,6%, Kinh chiếm 13,6%, Tày chiếm 3,0%, Giáy chiếm 1,6%, còn lại là các dân tộc Xa Phó và Hoa.

2. Điểm khác biệt lớn nhất về động cơ chuyến đi giữa khách du lịch nội địa và quốc tế tại Sa Pa là gì? Số liệu khảo sát của khóa luận cho thấy: đối với loại hình trekking tour mạo hiểm, chỉ có 3% khách nội địa lựa chọn trong khi tỷ lệ này ở khách quốc tế là 41%. Ngược lại, lý do "khí hậu và nghỉ ngơi" được 96% khách nội địa lựa chọn, nhưng chỉ chiếm 9% ở khách quốc tế. Cả hai luồng khách đều đánh giá cao cảnh quan thiên nhiên (nội địa 82%, quốc tế 92%) và tham quan bản làng (nội địa 57%, quốc tế 84%).

3. Khóa luận cung cấp những số liệu nào về quy mô lưu trú và giao thông hỏa xa phục vụ Sa Pa? Tại thời điểm khảo sát, Sa Pa có khoảng 60 khách sạn với gần 2.000 phòng nghỉ. Về đường sắt, tuyến Hà Nội - Lào Cai có đoàn tàu tốc hành chất lượng cao Livitrans Express (vận hành từ tháng 9/2007) gồm 1 toa VIP (6 khoang, mỗi khoang rộng 4,2 m² với 2 giường mềm) và 6 toa Tourist (mỗi toa 7 khoang, diện tích 3,6 m²/khoang với 4 giường nằm).

4. Kết quả của chương trình du lịch hợp tác "Về cội nguồn" được phản ánh qua các chỉ tiêu nào? Chương trình liên kết giữa ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ đạt mức tăng trưởng bình quân về lượng khách và doanh thu trên 16,7%/năm. Riêng năm 2009, chương trình đón hơn 1,3 triệu lượt khách (tăng 6% so với 2008), đạt tổng doanh thu 1.128 tỷ đồng (tăng 8,3%). Năm 2010, ba tỉnh đón trên 6 triệu lượt du khách.

5. Chỉ tiêu dự báo thu nhập du lịch của tỉnh Lào Cai đến năm 2010 và 2020 được tác giả trích dẫn là bao nhiêu? Theo số liệu định hướng của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch được tác giả viện dẫn ở Chương 3, thu nhập từ du lịch của tỉnh Lào Cai được dự báo đạt 784 tỷ đồng vào năm 2010 và đạt 3.538 tỷ đồng vào năm 2020.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả La Thanh Hiền đã cung cấp một bức tranh toàn diện và chi tiết về thực trạng phát triển du lịch tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai ở giai đoạn bản lề 2008 – 2012. Bằng việc kết hợp giữa lý luận du lịch học với phương pháp khảo sát thực địa, công trình đã làm rõ tiềm năng tự nhiên, tính đa dạng nhân văn của 7 nhóm dân tộc và phân tích sâu sắc các mặt tích cực cũng như hệ lụy tiêu cực của hoạt động du lịch đối với môi trường và văn hóa bản địa. Các định hướng và giải pháp được tác giả đề xuất nhấn mạnh tính liên ngành, chú trọng vai trò của cộng đồng sở tại trong bảo tồn di sản và giữ gìn hệ sinh thái Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị tư liệu thực tiễn và tính tham khảo học thuật rõ ràng cho công tác quản trị điểm đến du lịch miền núi.