Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Khái niệm về du lịch Du lịch là một trong những hoạt động của con người, nó xuất hiện từ khá lâu, khi điều kiện khoa học, kinh tế, kỹ thuật còn ở một trình độ rất thấp thì cũng đã xuất hiện rất nhiều hoạt động giao du của một bộ phận con người. Và kinh tế xã hội phát triển, trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ… ngày càng phát triển, thì nhu cầu du lịch cũng không ngừng phát triển và trở thành nhu cầu của xã hội.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này. Theo các chuyên gia tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp ở Roma – Italia (21/08 – 05/09/1963) thì khái niệm du lịch được hiểu: “Du lịch là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định.
7 Luan van Theo tác giả, du lịch là một hệ thống văn hóa, kỹ thuật, kinh tế - xã hội với mục tiêu là khai thác tài nguyên du lịch, sử dụng các phương tiện nhân lực, vật lực tạo nên những hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau cả về vật chất và tinh thần của du khách nội địa, du khách quốc tế trong quá trình thực hiện chuyến đi. Khái niệm cộng đồng Thuật ngữ cộng đồng (community) là một khái niệm được Liên hiệp quốc công nhận vào năm 1950 và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trình viện trợ. Theo quan điểm của Keith W. Sproule và Ary S.
Suhand (1998): “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”. Schmink (1999) lại đưa ra định nghĩa: “Cộng đồng là tập hợp một nhóm người chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên thiên nhiên ở địa phương”. Tại Hội nghị quốc tế về di sản văn hoá phi vật thể năm 2002, UNESCO đã thống nhất định nghĩa về cộng đồng như sau: “Cộng đồng là những người tự ý thức về sự gắn bó lẫn nhau, điều này được thể hiện ở ý thức về bản sắc chung hoặc các hành vi chung, hoặc các hoạt động chung và lãnh thổ chung”, bao gồm: - Cộng đồng văn hoá: là một cộng đồng mà thông qua văn hoá của mình, qua cách tiếp cận văn hoá hoặc qua sự biến thể từ văn hoá chung mà được phân biệt với các cộng đồng khác; - Cộng đồng bản địa: là một cộng đồng mà các thành viên thuộc cộng đồng này cho rằng, họ có nguồn gốc từ một khu vực lãnh thổ nhất định; - Cộng đồng địa phương: là một cộng đồng sống ở một địa phương nhất định.
8 Luan van Tiếp cận từ góc độ di sản văn hoá, cộng đồng ở đây được hiểu là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó mang tính lịch sử, có chung nhận thức về bản sắc văn hoá và cùng tham gia vào việc sáng tạo, lưu giữ, bảo tồn di sản của cộng đồng. Trên cơ sở các nghiên cứu trên, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về cộng đồng như sau: Cộng đồng là một tập hợp những chủ thể văn hóa và những người cùng cư trú ở một khu vực địa lý, có những đặc tính chung về văn hóa, xã hội, cùng thừa nhận một di sản văn hóa là tài sản của họ và một di sản văn hóa phi vật thể nhất định là bản sắc văn hóa của họ. Khái niệm về du lịch cộng đồng Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên WWF: “DLCĐ là loại hình du lịch mà ở đó CĐĐP có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự nghiệp phát triển và quản lý các hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng”. Theo quỹ phát triển Châu Á: “DLCĐ là một loại hình do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu du khách các nét đặc trưng địa phương”.
RW (Bill) Carter (2015), Du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch do cộng đồng sở hữu, vận hành, và quản lý hoặc điều phối ở cấp cộng đồng, góp phần mang lại sự thịnh vượng cho cộng đồng thông qua hỗ trợ sinh kế bền vững và bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa xã hội và tài nguyên di sản văn hóa và thiên nhiên. DLCĐ phát triển ở Việt Nam vào cuối những năm 1980 và ngày càng được coi trọng từ sau những năm 1990. Khái niệm về DLCĐ trong nghiên cứu này dựa vào đặc điểm của cộng đồng dân cư với tư cách là thành phần cốt lõi. Do vậy, tổng hợp từ nhiều lý luận của các tổ chức, nhà nghiên cứu thì DLCĐ là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và 9 Luan van làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương.
Đặc điểm của du lịch cộng đồng DLCĐ đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững, cân bằng với các chỉ tiêu kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường, trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa được khai thác hợp lý. DLCĐ chính là cách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hóa, sử dụng dịch vụ tại chỗ, phát triển giá trị văn hóa bản địa. DLCĐ thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển, bảo vệ tài nguyên môi trường. Thu nhập từ DLCĐ được giữ lại cho cộng đồng để bảo vệ môi trường và tái đầu tư cho du lịch địa phương.
DLCĐ là loại hình du lịch mà cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động từ bảo tồn, quản lý đến khai thác giá trị du lịch từ các nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) và môi trường du lịch, giữ vai trò chính trong các hoạt động kinh doanh du lịch như kinh doanh lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và kinh doanh các dịch vụ, hàng hóa, vui chơi, giải trí, hướng dẫn, tư vấn các hoạt động kinh tế và xã hội liên quan đến du lịch của địa phương. Cộng đồng dân cư phải là người dân làm ăn, sinh sống hoặc liền kề với các điểm TNDL, đồng thời cộng đồng dân cư phải có quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia khai thác và bảo vệ TNDL, ngăn ngừa các tác động xấu từ các hoạt động kinh doanh du lịch và từ các hoạt động của du khách. DLCĐ còn bao gồm các yếu tố trợ giúp của cơ chế chính sách, của các cơ quan quản lý nhà nước về dụ lịch, các tổ chức, các cá nhân, các công ty lữ hành… nhằm phát huy lợi thế nguồn lực phát triển du lịch tại nơi có dân cư sinh sống gắn với nguồn TNDL. DLCĐ giúp nhiều thành phần trong xã hội có thể di du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch, đồng thời là công cụ tham gia việc giảm nghèo của cộng đồng, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương (CĐĐP), đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương thông qua bán các sản phẩm du lịch, tạo ra thị trường hàng hóa và dịch vụ, góp phần phát triển du lịch, nâng cao hình ảnh của điểm đến du lịch.
Tài nguyên du lịch Khái niệm Theo Pirojnik (1985): Tài nguyên du lịch (TNDL) là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi và phát triển thể lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ DL gắn với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép. TS Nguyễn Minh Tuệ (2011): “TNDL là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sự hấp dẫn với du khách, đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của DL một cách hiệu quả và bền vững”. Luật Du lịch Việt Nam (2017) xác định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch”. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.
Tài nguyên DL tự nhiên Theo luật DL Việt Nam (2017), tại điều 15, chương 3: “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”. - Địa chất – địa hình – địa mạo: Các quá trình địa chất là nguyên nhân tạo ra bề mặt địa hình, việc nghiên cứu chúng có thể phát hiện ra những giá trị để hấp dẫn du khách, là cơ sở quan trọng để phát triển DL địa phương và quốc gia. - Khí hậu: Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên có tác động với hoạt động DL. Điều này được thể hiện ở khả năng thu hút khách thông qua đặc điểm khí hậu sinh học, ở những nơi có khí hậu điều hòa thường được rất nhiều du khách ưa thích, ngược lại ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt hơn như quá lạnh hoặc quá khô thì không thích hợp cho sự phát triển DL.
11 Luan van - Tài nguyên nước: Nước được coi là một tài nguyên quan trọng, tạo điều kiện để phát triển DL nói chung. Tài nguyên nước bao gồm nước trên lục địa và nước biển, đại dương. Nhiều loại hình DL được triển khai dựa trên đặc điểm của từng nguồn nước.