Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục … đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng sau: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch Chƣơng 2. Thực trạng phát triển du lịch quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Chƣơng 3. Một số giải pháp phát triển du lịch quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Từ một hiện tƣợng xã hội tự phát của cá nhân, tập thể, di chuyển từ nơi này đến nơi khác, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế đƣợc quan tâm hàng đầu hiện nay. Với tên gọi “ngành công nghiệp không khói” cho thấy đƣợc vai trò to lớn của du lịch đối với kinh tế cũng nhƣ xã hội. Tuy nhiên, đây lại là một ngành chịu nhiều sự chi phối cũng nhƣ tác động của các khía cạnh, do đó, đặc điểm cũng nhƣ xu hƣớng phát triển du lịch là mối quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học. Chƣa kể, dƣới các góc độ nhìn nhận khác nhau, bức tranh du lịch lại hiện lên với các đƣờng nét và màu sắc khác nhau.
Tác phẩm “An introduction to Tourism” của Leonard J. Lickorish và Carson L. Jenkins đến từ Anh cho ta những cái nhìn tổng quát nhất về ngành du lịch. Những khái niệm, đặc điểm, xu hƣớng du lịch đƣợc tổng hợp và trình bày cụ thể, ngắn gọn dƣới góc nhìn của các nhà khoa học phƣơng Tây, thể hiện những nét đặc trung về du lịch tại các nƣớc công nghiệp phát triển.
Bên cạnh đó, cuốn “The management of tourism” của Luan van 4 hai tác giả Lesley Pender và Richard Sharpley lại thể hiện những quan điểm về ngành quản lý du lịch, trong đó nhấn mạnh sự chi phối của chính phủ, sự phối hợp, liên kết giữa các chủ thể du lịch. Nghiên cứu du lịch trong nƣớc, phải kể đến đó là “Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030” là kim chỉ nam định hƣớng cho các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế xã hội, trong đó ngành du lịch là hạt nhân trong quá trình triển khai thực hiện. Ngoài ra, nổi bật còn có công trình “Mô hình Cluster du lịch Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam cho phát triển kinh tế khu vực miền trung” của 2 tác giả Trƣơng Hồng Trình và Nguyễn Thị Bích Thủy đến từ Trƣờng Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Số 6(29). Bài viết tiếp cận phân tích kinh tế dựa trên cluster cho phát triển kinh tế khu vực trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn vận dụng phân tích cluster ngành ở các nƣớc, và cung cấp một cơ sở nền tảng để các nhà hoạch định chính sách hiểu đƣợc các đặc tính và hoạt động kinh tế trong nền kinh tế khu vực.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cluster du lịch là một cluster ngành cạnh tranh cho phát triển kinh tế khu vực Miền Trung. Ngoài ra, nghiên cứu phát triển mô hình cluster du lịch dựa trên kết quả khảo sát các doanh nghiệp du lịch và phân tích các yếu tố cạnh tranh của khu vực Miền Trung. Tổng quan khoa học đề tài “Khai thác tiềm năng kinh tế du lịch ở các tỉnh duyên hải miền Trung” của nhóm tác giả đến từ Học viện chính trị Hồ Chí Minh, chủ nhiệm là Đỗ Thanh Phƣơng đã phân tích thực trạng tiềm năng du lịch các tỉnh duyên hải miền Trung, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển du lịch tại khu vực này. Sâu hơn nữa là các đề tài nghiên cứu về du lịch Đà Nẵng, có thể kể tên là “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên Luan van 5 văn hóa”- tháng 12/2014, chủ nhiệm đề tài là Trần Thị Mai An và “Phát triển du lịch biển Đà Nẵng” của Huỳnh Thị Mỹ Lệ năm 2012.
Cả hai đề tài đều tập trung nghiên cứu về du lịch Đà Nẵng, tiềm năng, hƣớng phát triển cũng nhƣ giải pháp, đặc biệt là du lịch biển, trong đó có đề cập đến khu du lịch Sơn Trà và tuyến đƣờng ven biển, tuy nhiên chỉ là những nét chung, nằm trong bức tranh quy hoạch tổng thể Đà Nẵng. Đặc biệt đáng quan tâm đến đó là “Phát triển loại hình du lịch sinh thái tại khu du lịch bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Thu Hiệp năm 2012. Về mặt phạm vi không gian, đề tài của Nguyễn Thị Thu Hiệp tập trung nghiên cứu về loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà trên địa bàn phƣờng Thọ Quang thuộc quận Sơn Trà, về phạm vi thời gian là đến năm 2010. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích tiềm năng, thế mạnh của loại hình du lịch sinh thái, thực trạng phát triển loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo, cơ hội và thách thức trong việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm phát triển các loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà.
Xét thấy quận Sơn Trà là một địa bàn rộng lớn, bao gồm 7 phƣờng và có tiềm năng phát triển khá nhiều loại hình du lịch bao gồm cả du lịch sinh thái. Mỗi phƣờng có một thế mạnh riêng, khó khăn riêng, cách thức phát triển du lịch riêng. Ngoài ra, hiện nay, trung ƣơng cũng nhƣ thành phố đã đầu tƣ xây dựng phát triển tuyến đƣờng ven biển, ven sông rất nhiều. Điều đó khiến tôi phải trăn trở và quyết định nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” để đƣa đến những cái nhìn rộng hơn cũng nhƣ sâu hơn về phát triển du lịch toàn quận Sơn Trà trong giai đoạn 2011-2015, đặc biệt là phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn quận trong thời gian đến.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Du lịch Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của con ngƣời và trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến trong thời đại ngày nay. Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dụng của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú. Do đó, thế nào là du lịch xét từ góc độ của ngƣời du lịch và bản thân ngƣời làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những ngƣời nghiên cứu và những ngƣời hoạt động trong lĩnh vực này.
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,… Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đƣa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ. Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động cá nhân đi đến và lƣu lại ngoài nơi Luan van 7 ở thƣờng xuyên trong thời gian không quá 12 tháng với những mục đích sau: nghỉ ngơi, thăm viếng, tham quan, giải trí, công vụ, mạo hiểm, khám phá, thể thao,… và những mục đích khác ngoại trừ mục đích kiếm tiền hằng ngày”. Theo Điều 4, Chƣơng I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
[27] Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nƣớc này sang một nƣớc khác mà không thay đổi nơi cƣ trú hay nơi làm việc. Nhƣ vậy, chúng ta thấy đƣợc du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp tổng hoà nhiều mối quan hệ và hiện tƣợng nảy sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tƣợng là khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành du lịch. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. Trên cơ sở tổng hợp tất cả các nhận định về lý luận, thực tiễn của các nhà nghiên cứu về du lịch, các hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam, khái niệm du lịch do Khoa Du lịch và khách sạn – Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân đƣa ra đƣợc tôi chọn để có quan niệm đầy đủ cả góc độ kinh tế và góc độ xã hội về du lịch: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hƣớng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lƣu trú, Luan van 8 tham quan, giải trí, tìm hiểu, và các nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đƣa lại lợi ích kinh tế, chính trị xã hội thiết thực cho nƣớc làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Khách du lịch Nói đến khách du lịch, chúng ta có thể hiểu đó là những ngƣời đi từ nơi này đến nơi khác để nghỉ ngơi, giải trí, cũng có thể hiểu đó là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trƣờng hợp đi làm hay đi học… “ Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến ” 27 - Định nghĩa khách du lịch quốc tế. Theo tổ chức du lịch thế giới ( WTO): " Khách du lịch quốc tế là một ngƣời lƣu trú ít nhất một đêm nhƣng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thƣờng trú với nhiều mục địch khác nhau ngoài hoạt động để đƣợc trả lƣơng ở nơi đến” + Khách du lịch quốc tế chủ động: là những ngƣời ở nƣớc ngoài vào nƣớc đó.