CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN 1. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 1. Các quan điểm trong triết học về sự phát triển a. Quan điểm phát triển trong triết học Hy Lạp cổ đại Các nhà triết học tự nhiên như Talet, Acnaximen của trường phái Milet đã tiếp cận với qua niệm về vận động và biến đổi của thế giới.CN) được xem là người sáng lập trường phái Milet.
Talet cho rằng, nguồn gốc của thế giới vạn vật là nước. Nước là bản chất chung của tất thảy mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới. Mọi cái trên thế gian đều được sinh ra từ nước và khi bị phân hủy lại trở về dạng tồn tại ban đầu là nước. Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo nên thì không ngừng biến đổi, phát triển, sinh ra và chết đi.
Toàn thể thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó. Trong vũ trụ học của mình, Acnaximen (610-546 tr.CN) coi không khí (apeirôn) là vô hình và trong suốt là trạng thái đầu tiên của mọi vật. Tự bản thân apeirôn sinh ra mọi cái, đồng thời là cơ sở vận động của chúng. Toàn bộ vũ trụ được cấu thành từ apeirôn tồn tại như một vòng tuần hoàn và biến đổi không ngừng.
Không khí tồn tại ở hai quá trình đối lập là loãng và đặc lại, “không khí loãng ra biến thành lửa. Không khí đặc lại biến thành gió, gió thành mây, mây thành nước, nước thành đất, đất biến thành đá: Không khí → gió → mây → nước → đất → đá. Vật chất theo con đường này bằng cách hóa đặc từ không khí thành đá, hoặc theo con đường ngược lại từ đá thành không khí bằng cách từng bước loãng ra”. Nhìn chung các nhà triết học thuộc trường phái Milet đã bước đầu nhìn nhận thế giới một cách biện chứng mặc dù còn sơ khai, chất Luan van 8 phác.
Xem thế giới như một chỉnh thể thống nhất và đi tìm nguồn gốc cũng như bản chất của nó ở một dạng vật chất cụ thể nào đó. Dầu vậy, những quan điểm đó đã bước đầu đặt nền móng cho sự phát triển các tư tưởng duy vật về thế giới cũng như sự phát triển.CN) nhà biện chứng nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. cũng giống như những người đương thời, ông tập trung đi tìm nguồn gốc của thế giới và ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật “mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. Lửa không chỉ là cơ sở của vạn vật mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng.
“cái chết của lửa - là sự ra đời của không khí, và cái chết của không khí là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí (từ cái chết của nước - lửa và ngược lại)”. Hêraclit dùng con đường đi lên và đi xuống để mô tả sự chuyển hóa của sự vật. Con đường đi xuống bắt đầu từ lửa → không khí→ nước → đất. Còn con đường đi lên bắt đầu từ đất → nước→ không khí→ và cuối cùng trở về dạng tồn tại ban đầu là lửa.
Nhưng theo Hêraclit thì chuẩn mực của mọi sự vật là logos, đươc hiểu không chỉ là từ ngữ mà còn là quy luật khách quan của vũ trụ. Quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái. Cái logos đó tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thực chất đó là quy luật của tự nhiên. Theo ông mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều thay đổi, vận động và phát triển không ngừng.
Ông cho rằng, “Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau”[40, tr 158]. Như vậy, Hêraclit đã có một cái nhìn biện chứng chất phác và tiến bộ về sự vận động. Đó là vận động của sự vật gắn liền với thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Chính mâu thuẫn tồn tại một cách phổ biến trong sự vật đã trở thành nguồn gốc phát triển của vạn vật.
Chiếm vị trí nổi bật trong triết học Hi Lạp cổ đại là khuynh hướng nguyên tử luận mà đại biểu là Đêmôcrit. Ông là một trong những nhà triết học Luan van 9 duy vật lớn nhất thời cổ đại. Đêmôcrit cho rằng khởi nguyên của các thế giới là nguyên tử. Các nguyên tử được ông cho là nhỏ nhất không phân chia được, chúng chỉ khác nhau về trật tự, hình dạng, tư thế… Vận động được xem là bản chất của nguyên tử, “có vô số thế giới, chúng có đại lượng khác nhau, xuất hiện từ những khoảng vô tận, sinh ra và mất đi… Một thế giới đang phát triển, số khác đã đạt tới sự trưởng thành, số thứ ba đang suy thoái.
Các thế giới đang ra đời ở một nơi, nhưng lại đang biến mất ở nơi khác. Chúng bị hủy diệt, khi va chạm vào nhau. Một số thế giới không có động vật và thực vật và hoàn toàn không có nước”. Đêmôcrit tán đồng với quan điểm của Hêraclit khi cho rằng từ sự vật bé nhất cho đến thế giới không có gì là trường tồn cả, tất cả đều là một quá trình biến đổi không ngừng.
Học thuyết nguyên tử của Đêmôcrit là thành quả vĩ đại của tư tưởng duy vật trong thế giới cổ đại. Những tư tưởng vũ trụ học của ông xây dựng trong lý luận nguyên tử về cấu tạo vật chất và thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát có một ý nghĩa sâu sắc đối với lịch sử triết học. Thừa nhận vũ trụ là vô tận và vĩnh cửu, Đêmôcrit cho rằng, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và tiêu vong. Ông phỏng đoán rằng, vận động không tách rời vật chất - đó là một phỏng đoán thiên tài.
Theo ông, vận động của những nguyên tử là vĩnh viễn, không có điểm kết thúc. Trong triết học Hy Lạp cổ đại ngoài những tư tưởng mang khuynh hướng duy vật, thì bên cạnh đó những tư tưởng duy tâm về sự vận động và phát triển cũng hết sức phong phú. Nổi bật phải kể đến quan niệm về thế giới ý niệm của Platon và thuyết hình dạng của Aristot. Platon(427-347 TCN) là đại biểu lớn nhất trong triết học duy tâm Hy Lạp thời kỳ cổ đại.
Nhiều người đã đồng quan điểm khi cho rằng thuật ngữ “idealism” (chủ nghĩa duy tâm) bắt nguồn từ ý niệm lần đầu tiên được Platon đưa ra và về sau được Hegel kế thừa phát triển trong hệ thống triết học duy Luan van 10 tâm khách quan của mình. Ý niệm là gì? Theo tiếng Hi Lạp ý niệm chính là những nghĩa rất rộng như loài, giống, hình thức…“trong chủ nghĩa duy tâm khách quan “ý niệm”, sản phẩm của quá trình tư duy bị “biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực”. Đối với Mác “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” [23, tr 35]. Học thuyết ý niệm là vấn đề trung tâm của hệ thống triết học Platon vì vậy không chỉ là nền tảng của thế giới quan mà còn là cơ sở của nhận thức.
Trong học thuyết “ý niệm” ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết.
Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm.
Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ. Theo Platon tri thức được phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng.
Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng Luan van 11 sai không có chân lí. Quan niệm duy tâm về thế giới đã chi phối quan niệm về xã hội và con người. Sự khác biệt trong cấu trúc và linh hồn đã quy định sự khác nhau về đẳng cấp xã hội. Tương ứng với ba phần của linh hồn con người (lý tính, cảm xúc, tình cảm) chia xã hội ra làm ba hạng người tùy theo bộ phận linh hồn nào đóng vai trò chủ đạo, đó là những kẻ thống trị, tầng lớp võ sĩ, tầng lớp những người lao động.
Trong quan niệm về thế giới Platon đã theo lập trường duy tâm khách quan, coi mọi sự vật chỉ là sự hiện thân hay là sự mô phỏng của ý niệm. Quan niệm này của Platon đã phủ nhận sạch trơn sự vận động, phát triển của sự vật, cho rằng bất cứ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất. Cũng giống như triết học Platon, Aristot cũng bàn tới ý niệm, nhưng những quan niệm về thế giới ý niệm của Aristot đối lập hoàn toàn với những gì mà Platon đã trình bày trong học thuyết của mình. Theo Aristot khởi nguyên của vạn vật, của thế giới đã có vật chất, đó là vật chất thuần túy chưa bị giới hạn trong bất kỳ một hình thức nào cả.
Tồn tại trong một trạng thái không tồn tại, nghĩa là nó chưa là một cái gì cả, nhưng lại tồn tại với tư cách là khả năng trở thành một cái gì đó. Aristot trình bày học thuyết về bốn nguyên nhân của quá trình vũ trụ: 1. nguyên nhân vật chất; 2. Nguyên nhân mô thức; 3.
Nguyên nhân vận động; 4. Nguyên nhân mục đích.