Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung đề tài gồm 03 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về DLDVCĐ và tổng quan về làng cổ Phước Tích, Thừa Thiên Huế. Tiềm năng và thực trạng phát triển DLDVCĐ tại làng cổ Phước Tích, Thừa Thiên Huế. Định hướng và giải pháp phát triển DLDVCĐ tại làng cổ Phước Tích, Thừa Thiên Huế.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG CỔ PHƢỚC TÍCH, THỪA THIÊN HUẾ 1. Cơ sở lí luận về du lịch dựa vào cộng đồng 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Khái niệm du lịch Hội đồng DL và Lữ hành thế giới (WTTC) đã công nhận DL là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới vượt lên cả ngành sản xuất ô tô, thép điện tử và nông nghiệp [47]. Vì vậy, nó đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo một số học giả, DL bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp“Tonos”. Thuật ngữ này được Latinh hoá thành “Tumur” và sau đó thành“Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi [34, tr. DL gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm DL cũng không giống nhau: Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê DL cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [34, tr. Theo các chuyên gia tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về DL họp ở Roma - Italia (21/8 – 05/9/1963) thì khái niệm DL được hiểu: “Du lịch là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [25, tr. Tiếp cận trên góc độ của KDL: “Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, 16 với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ, du lịch như một cơ hội để tìm kiếm, những kinh nghiệm sống, sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình” [31, tr. Ở Việt Nam, định nghĩa về DL được dùng làm căn cứ pháp lý trong Luật DL Việt Nam 2017.
Theo đó, “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [15]. Khái niệm cộng đồng Thuật ngữ “CĐ” (community) là một khái niệm được Liên hiệp quốc công nhận vào năm 1950 và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trình viện trợ. Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó [35, tr. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này: Theo Keith và Ary (1988) cho rằng: “Cộng đồng trước hết là một nhóm người thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình về cùng một nhóm.
Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [20, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, CĐ được hiểu là “một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội nói chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa bàn cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [40, tr. Trong công trình Du lịch dựa vào cộng đồng (2012) của tác giả Bùi Thị Hải Yến cũng có cách hiểu về CĐ như sau: “Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [39, tr33].
Như vậy, CĐ mang tính phổ quát bao gồm những yếu tố nổi bật: Kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, VH, tín ngưỡng, tôn giáo và lối sống. Khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng Thuật ngữ “Du lịch dựa vào cộng đồng” (community based tourism) được xuất phát từ hình thức KDL tham quan những làng bản, tìm hiểu về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền VH khác nhau. Một số du khách tìm đến những nơi có 17 dân cư thưa thớt, điều kiện sinh hoạt đi lại và hỗ trợ rất khó khăn, vì vậy họ rất cần sự trợ giúp của người dân bản địa như dẫn đường để tránh lạc, nơi ở qua đêm, ăn uống… Họ được người dân địa phương giúp đỡ, cung cấp các dịch vụ; khi đó, KDL gọi đây là chuyến DL có sự hỗ trợ của người bản xứ – đây là tiền đề để phát triển loại hình DLDVCĐ. Trong quá trình phát triển, DLDVCĐ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách nêu bật lên một khía cạnh của hình thức này: Theo Quỹ bảo tồn Thiên nhiên thế giới WWF: “Du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý các hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng” [40, tr.
Theo quỹ phát triển Châu Á: “Du lịch dựa vào cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương” [21, tr. Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra khái niệm: “Du lịch dựa vào cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lí. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [20, tr. Theo định nghĩa này, CĐ được nêu bật lên với vai trò chính trong vấn đề phát triển DL ngay trên địa bàn họ quản lí.
Họ cũng chính là chủ thể thu lợi trực tiếp từ hoạt động này. Võ Quế phát triển trong công trình Du lịch dựa vào cộng đồng - Lý Thuyết Và Vận Dụng đã đưa khái niệm như sau: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” [19]. Nói tóm lại, DLDVCĐ là loại hình DL mà trong đó CĐ sẽ trực tiếp tham gia các hoạt động DL như khai thác, quản lí và bảo tồn TNDL thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan tài trợ hay các tổ chức phi chính phủ. Lợi ích thu được sẽ đóng góp nhiều cho kinh tế địa phương - giảm tỉ lệ đói nghèo, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống.
KDL được nâng cao nhận thức, học hỏi về CĐ và cuộc sống đời thường, VH, truyền thống của người dân bản xứ. Đồng thời, DLDVCĐ giúp giữ gìn, bảo tồn 18 các di sản VH, di sản thiên nhiên ở địa phương và hướng đến sự phát triển DL bền vững. Đặc điểm và nguyên tắc của du lịch dựa vào cộng đồng 1. Đặc điểm của du lịch dựa vào cộng đồng DLDVCĐ là một loại hình DL rất mới mẻ.
Ở Việt Nam loại hình DL này rất được quan tâm và chú ý phát triển trong những năm gần đây. DLDVCĐ được coi là hướng đi tốt ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng núi, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thì hoạt động DL sẽ từng bước cải thiện cuộc sống, tạo sinh kế mới, tạo thêm công ăn việc làm cho nhân dân. Dựa trên công trình “Nghiên cứu phát triển Du lịch dựa vào cộng đồng tại xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam” của tác giả Phạm Thị Lấm (2018) có thể nhận thức một số đặc điểm của DLDVCĐ như sau: - DLDVCĐ là loại hình DL mà CĐ dân cư là những người được tham gia ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển DL: từ khâu nghiên cứu, lập dự án quy hoạch phát triển DL, tham gia với vai trò quản lý và quyết định các vấn đề phát triển DL, triển khai các hoạt động kinh doanh, cung cấp các SPDL phục vụ du khách. Họ giữ vai trò chủ đạo phát triển và duy trì các dịch vụ.
Hoạt động này có tính đến hiệu quả và chịu sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường. - Địa điểm tổ chức phát triển DLDVCĐ diễn ra tại nơi cư trú hoặc gần nơi cư trú của CĐĐP. Đây là những khu vực có TNDL tự nhiên và nhân văn phong phú, hấp dẫn, có độ nhạy cảm cao về đa dạng sinh học, chính trị, VH, xã hội và hiện đang bị tác động bởi con người. - CĐ dân cư phải là người dân sinh sống làm ăn trong hoặc liền kề các điểm TNDL, đồng thời CĐ phải có trách nhiệm tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường nhằm hạn chế, giảm tác động tiêu cực từ chính việc khai thác tài nguyên của CĐ và hoạt động của KDL.
- DLDVCĐ đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Điều này được thể hiện ở việc DLDVCĐ có tác động tích cực đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ngành nghề và lao động. Trước khi tham gia DLDVCĐ người dân chủ yếu sinh sống trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp, nghề chính của họ là sản xuất nông nghiệp. Khi DLDVCĐ phát triển người dân có điều kiện và các ngành nghề kinh truyền thống được duy trì và phát triển trở thành SPDL độc đáo.
Từ đó việc tiêu 19 thụ những sản phẩm tại chỗ được dễ dàng hơn.