Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về sự phát triển du lịch theo hướng bền vững. Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2000-2011 Chương 3: Quan điểm, phương hướng mục tiêu và một số giải pháp phát triển DL ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2012-2020 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1. Nhƣ̃ng vấ n đề lý luâ ̣n về du lịch. Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch * Khái niệm du lịch Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người, từ xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ.
Con người luôn muốn biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về các dân tộc, nền văn hoá, các động vật, thực vật, địa hình ở những vùng khác hay quốc gia khác. Lúc đầu con người quan niệm rất đơn giản về du lịch. Họ cho rằng du lịch là đi chơi, đi dã ngoại. Một số học giả lại cho rằng thuật ngữ “du lịch”trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos” với nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được La tinh hóa thành “Tornos". Một số học giả cho rằng thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ gốc tiếng Pháp “le tour"- có nghĩa là một chuyển động vòng, là một cuộc hành trình đi đến một nơi nào đó và quay trở lại. Thuật ngữ đó sang tiếng Anh thành “tourism", sang tiếng Nga thành “mypuzn”. Như vậy, khái niệm “du lịch” ở các nước Pháp, Anh, Nga, Tây Ban Nha … có ý nghĩa đầu tiên là khởi hành, đi lại, chinh phục không gian.
Người Đức sử dụng từ “der Fremden verkelirs” là tổ hợp ba từ có nghĩa là ngoại (lạ), giao thông (đi lại) và mối quan hệ. Như vậy, họ nhìn nhận” du lịch”như là mối quan hệ, sự đi lại hay vận chuyển của những người đi du lịch. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán là từ ghép “du” là đi chơi, đi dạo và “lịch” là lịch lãm, hiểu biết, từng trải. Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách hàng nhằm tăng thêm hiểu biết, từng trải.
Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách nhằm tăng thêm 14 hiểu biết, tích lũy kiến thức. Bản thân khái niệm” du lịch”có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình. Từ xa xưa loài người đã khởi hành với nhiều lý do khác nhau như vì sự tò mò, lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên, vì để học ngoại ngữ, để thỏa mãn sự hiếu kỳ, tính phiêu lưu mạo hiểm, thích cảm giác mạnh … Định nghĩa đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811 tại Anh:” Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí. Ở đây giải trí là động cơ chính” Năm 1930, ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”.
Ông Kuns, một người Thụy Sỹ khác cho rằng: “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng sản phẩm của các xí nghiệp du lịch”. Giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf – hai người được coi là những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời”. Một số trường Đại học lại có định nghĩa du lịch như sau: Định nghĩa của Đại học Kinh tế Praha (CH Séc): “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người về việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. 15 Định nghĩa về du lịch của trường Đại học Tổng hợp Kinh tế thành phố Varna, Bulgarie:” Du lịch là một hiện tượng KT - XH được lặp đi, lặp lại đều đặn.
Chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập, đó là các tổ chức, xí nghiệp và cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn, nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi và mục đích thỏa mãn các nhu cầu cá thể về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hóa, chính trị, kinh tế …) mà không có mục đích lao động kiếm lời”. Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ):” Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng, dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. Nhà cung ứng Du khách dịch vụ du lịch Chính quyền địa Dân cư sở tại phương nơi đón khách du lịch Như vậy du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu tại nơi mà khách đi qua và ở lại. - Hoạt động du lịch 16 là hoạt động của khách du lịch, tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách du lịch. - Khách du lịch + Theo định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (Leaque of Nations) (1937) thì những người được coi là khách du lịch là những người khởi hành để giải trí vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khỏe … những người khởi hành để gặp gỡ trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ, những người khởi hành vì mục đích kinh doanh. Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển, thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng gian ít hơn 24 giờ. + Ngày 4/3/1993, Hội đồng Thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commisson) đã công nhận một số thuật ngữ về khách du lịch: Khách du lịch quốc tế (International tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia và những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.
Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước. Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài + Theo Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam qui định: “Khách du lịch là người đi lại du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề ở nơi đến, khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”. 17 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. - Sản phẩm du lịch Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch, là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn nhân lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. Sản phẩm du lịch bao gồm các yếu tố hữu hình cũng như vô hình - yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố vô hình là dịch vụ. - Dịch vụ du lịch Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách du lịch.
Để thỏa mãn các nhu cầu đó, ngành du lịch tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản và thường được gọi tắt là cung dịch vụ, có thể phân chia thành các nhóm cơ bản: + Dịch vụ vận chuyển + Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống + Dịch vụ tham quan, giải trí + Hàng hoá tiêu dùng và đồ lưu niệm + Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch Để có quan niệm đầy đủ về cả góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, Khoa du lịch và khách sạn (Đại học KTQD - Hà Nội) đưa ra định nghĩa: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du 18 lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu, đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp". Trong Pháp lệnh Du lịch được Quốc hội khóa XI thông qua, tại Điều 10 qui định: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định". Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia tạo ra một tổng thể hết sức phức tạp.
Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội.