Tổng quan nghiên cứu

Du lịch cộng đồng đang trở thành xu hướng phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu, đóng vai trò như một công cụ đòn bẩy xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng nông thôn, miền núi. Tại Việt Nam, ngành du lịch ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc khi chạm mốc hơn 10 triệu lượt khách quốc tế và tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 400 nghìn tỷ đồng vào năm 2016. Tọa lạc tại cửa ngõ phía Bắc thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương sở hữu diện tích tự nhiên 130.963,40 ha, chiếm khoảng 19% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng. Địa bàn hội tụ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú gắn liền với Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà, khí hậu mát mẻ quanh năm và kho tàng văn hóa đặc sắc của 19.268 đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 72,9% dân số toàn huyện.

Mặc dù có nhiều tiềm năng to lớn, hoạt động du lịch tại Lạc Dương thời gian qua vẫn mang tính tự phát, phân tán và chưa đem lại sinh kế ổn định cho cộng đồng bản địa, nơi tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm tới 29,0% với 1.469 hộ dân. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, đánh giá toàn diện tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch tại 3 địa bàn trọng điểm gồm xã Lát, xã Đạ Nhim và xã Đạ Chais trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2017 dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2017. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm phát triển mô hình du lịch cộng đồng bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho hơn 5.067 hộ dân trên địa bàn, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và hệ sinh thái rừng đầu nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của các học giả Bùi Thị Hải Yến (2012), Phạm Trung Lương (2010) và Võ Quế (2016). Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm nền tảng: Du lịch cộng đồng, Sinh kế bền vững của cư dân bản địa, Sức chứa môi trường du lịch và Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, du lịch cộng đồng là phương thức du lịch trong đó người dân địa phương giữ vai trò chủ thể kiểm soát, trực tiếp vận hành các dịch vụ và thụ hưởng phần lớn lợi ích kinh tế thu được.

Nghiên cứu cũng kế thừa bài học kinh nghiệm quốc tế từ mô hình Hiệp hội Homestay Malaysia với cơ chế cấp phép chuẩn hóa và sự hỗ trợ tín dụng từ chính phủ, cùng quy hoạch bảo tồn không gian văn hóa tại Bali (Indonesia) dưới sự tư vấn của Tổ chức Du lịch Thế giới. Ở phạm vi trong nước, tác giả phân tích mô hình 25 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại Hà Giang và mô hình du lịch làng quê Yên Đức tại tỉnh Quảng Ninh, nơi mỗi tháng đón khoảng 2.000 lượt khách quốc tế và tạo việc làm trực tiếp cho hơn 50 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân trên 3 triệu đồng mỗi tháng.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2013-2017 của Ủy ban nhân dân huyện Lạc Dương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng cùng Ban Quản lý Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà.

Dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra thực địa qua 2 đợt vào tháng 3 và tháng 7 năm 2017. Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích để khảo sát 100 khách du lịch trong nước và quốc tế, đồng thời áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để phỏng vấn 150 hộ dân thuộc cộng đồng địa phương tại 3 xã Lát, Đạ Nhim và Đạ Chais. Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ để đo lường mức độ hài lòng của du khách và sự đồng thuận tham gia của người dân. Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số và tính toán giá trị trung bình được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc lượng hóa các chỉ số cảm nhận, giúp phản ánh chính xác khoảng cách giữa kỳ vọng của du khách và năng lực cung ứng dịch vụ tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Lạc Dương sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn vô cùng phong phú nhưng chưa được khai thác tương xứng. Khu hệ sinh thái rừng nguyên sinh có 827 loài thực vật, trong đó có 246 loài hoa cảnh quý và 212 loài cây thuốc, cùng 382 loài động vật hoang dã với 61 loài quý hiếm. Khí hậu á xích đạo trên nền độ cao 1.500m đến 1.600m duy trì nhiệt độ trung bình từ 16 đến 22 độ C quanh năm. Về mặt nhân văn, 72,9% dân số là người dân tộc bản địa như K'Ho Lạch, K'Ho Cil với không gian văn hóa cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm và sản xuất rượu cần truyền thống.

Thứ hai, kết quả khảo sát 100 khách du lịch cho thấy mức độ hài lòng về cảnh quan môi trường thiên nhiên và sự thân thiện của con người đạt tỷ lệ tích cực rất cao, lần lượt là 85,0% và 82,0%. Tuy nhiên, mức độ hài lòng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ lưu trú lại ở mức thấp đáng báo động, với 58,0% du khách đánh giá hệ thống nhà vệ sinh công cộng chưa đạt chuẩn và 62,0% phản ánh tình trạng giao thông kết nối các tuyến điểm còn gồ ghề, khó tiếp cận.

Thứ ba, sự tham gia của 150 hộ dân địa phương vào chuỗi giá trị du lịch còn mang tính chất thụ động và tự phát. Khoảng 68,0% số người tham gia chỉ đảm nhận các công việc giản đơn như bán nông sản nhỏ lẻ, làm nương rẫy kết hợp hoặc phụ việc thời vụ. Chỉ có khoảng 7,5% lao động từng trải qua các lớp tập huấn bài bản về nghiệp vụ du lịch, giao tiếp ngoại ngữ hay an toàn vệ sinh thực phẩm.

Thứ tư, cơ cấu kinh tế xã hội phân hóa sâu sắc khi tỷ lệ hộ nghèo chiếm 29,0% tương đương 1.469 hộ, tỷ lệ mù chữ trong nhóm hộ nghèo chiếm tới 30,0% và diện tích đất canh tác bình quân dưới 0,5 ha mỗi hộ. Điều này cho thấy rào cản lớn về vốn và trình độ học vấn trong việc chuyển đổi sinh kế sang dịch vụ du lịch homestay.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại Lạc Dương cho thấy sự mâu thuẫn rõ rệt giữa tiềm năng tài nguyên trù phú và hiệu quả kinh tế mang lại cho cư dân bản địa. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc thiếu vắng một cơ chế quản trị du lịch cộng đồng thống nhất, sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và người dân còn rời rạc. Khi so sánh với mô hình làng quê Yên Đức tại Quảng Ninh, nơi có hơn 400 người dân được đào tạo chuyên môn và hơn 50 lao động có việc làm ổn định, Lạc Dương rõ ràng chưa phát huy được sức mạnh tự quản của cộng đồng.

Dữ liệu khảo sát mức độ hài lòng của du khách và thực trạng phân hóa lao động có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua các biểu đồ thanh ngang so sánh các tiêu chí dịch vụ và bảng ma trận chéo thể hiện mối liên hệ giữa trình độ học vấn và khả năng tham gia du lịch của các hộ dân. Việc chuyển dịch từ mô hình khai thác tự phát sang mô hình du lịch có sự điều phối bài bản sẽ tạo cơ hội thu hẹp khoảng cách giàu nghèo cho 52,7% số hộ trung bình và 29,0% số hộ nghèo trên địa bàn huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch cộng đồng. Ủy ban nhân dân huyện Lạc Dương cần ban hành đề án phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2018-2025, tiến hành phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt tại Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà và quy hoạch 3 cụm điểm du lịch mẫu tại xã Lát, Đạ Nhim và Đạ Chais trước năm 2020. Thành lập Ban quản lý Du lịch cộng đồng cấp xã với sự tham gia trực tiếp của các già làng, trưởng bản nhằm đảm bảo nguyên tắc chia sẻ lợi ích công bằng.

Thứ hai, tổ chức các chương trình đào tạo và nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Lạc Dương triển khai các khóa tập huấn nghề du lịch ngắn hạn, hướng tới mục tiêu 100% chủ hộ kinh doanh homestay và tối thiểu 300 lao động là người đồng bào dân tộc thiểu số được đào tạo kỹ năng đón tiếp, chế biến ẩm thực truyền thống, vệ sinh môi trường và tiếng Anh giao tiếp cơ bản đến năm 2022.

Thứ ba, ưu tiên nguồn vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và nâng cấp cơ sở vật chất phụ trợ. Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng và các tổ chức tín dụng cần xây dựng gói vay ưu đãi lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ dân có nhu cầu cải tạo nhà ở thành homestay đạt chuẩn. Đặt mục tiêu nâng cấp 100% đường liên thôn tại xã Lát và Đạ Nhim, xây dựng mới 15 đến 20 nhà lưu trú kiểu mẫu mang đậm nét kiến trúc nhà sàn của người K'Ho trước năm 2023.

Thứ tư, xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến tiếp thị số. Các đơn vị kinh doanh lữ hành cần phối hợp với người dân bản địa thiết kế 3 dòng sản phẩm chủ lực: Tour trải nghiệm văn hóa Cồng chiêng và dệt thổ cẩm tại chân núi Lang Biang, Tour du lịch nông nghiệp trải nghiệm canh tác cà phê Arabica chất lượng cao, và Tour trekking khám phá đa dạng sinh học Bidoup. Ứng dụng công nghệ số và mạng xã hội để quảng bá điểm đến, phấn đấu tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày lên 2,5 ngày và nâng doanh thu du lịch toàn huyện tăng trưởng 15% đến 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước về du lịch tại Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Du lịch và Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung giải pháp toàn diện để xây dựng các đề án phát triển kinh tế du lịch nông thôn, quy hoạch vùng đệm rừng đặc dụng và điều chỉnh chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức sự kiện và các nhà đầu tư phát triển du lịch sinh thái, du lịch bền vững. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác thị hiếu của du khách, từ đó thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo và thiết lập mô hình hợp tác công tư bình đẳng với cư dân địa phương.

Thứ ba, các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản lý tài nguyên môi trường hoặc Phát triển nông thôn. Công trình mang lại phương pháp luận chuẩn xác, bộ công cụ khảo sát thực địa Likert và hệ thống tài liệu tham khảo phong phú về mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực Tây Nguyên.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và các quỹ bảo tồn sinh thái đang thực hiện các dự án hỗ trợ sinh kế và bảo tồn văn hóa. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu kinh tế hộ gia đình, mức độ phân hóa giàu nghèo và các giải pháp can thiệp khả thi nhằm hỗ trợ 26.416 người dân vùng nghiên cứu phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Thế mạnh nổi bật nhất để phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Lạc Dương là gì? Huyện Lạc Dương sở hữu tài nguyên thiên nhiên đặc sắc với diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, hệ động thực vật phong phú gồm 827 loài thực vật và 382 loài động vật, cùng nền văn hóa cồng chiêng độc đáo của 19.268 người dân tộc thiểu số K'Ho. Khí hậu ôn đới mát mẻ quanh năm từ 16 đến 22 độ C và vị trí liền kề thành phố Đà Lạt tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội để thu hút khách du lịch.

Tại sao sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch hiện nay vẫn còn hạn chế? Thực tế khảo sát cho thấy 29,0% số hộ dân thuộc diện nghèo với diện tích canh tác nhỏ hẹp dưới 0,5 ha và tỷ lệ mù chữ trong nhóm nghèo lên tới 30,0%. Người dân thiếu vốn đầu tư, thiếu kiến thức kinh doanh du lịch và chỉ khoảng 7,5% lao động được đào tạo nghề, dẫn đến tâm lý thụ động và chủ yếu làm các công việc thời vụ thu nhập thấp.

Nghiên cứu áp dụng những phương pháp nào để thu thập và phân tích dữ liệu? Đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2017 với phương pháp điều tra bảng hỏi định lượng trực tiếp trên 100 khách du lịch và 150 hộ dân tại 3 xã Lát, Đạ Nhim, Đạ Chais qua 2 đợt khảo sát vào tháng 3 và tháng 7 năm 2017 bằng thang đo Likert 5 mức độ chuẩn mực.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả nhất cho huyện Lạc Dương? Mô hình Hiệp hội Homestay của Malaysia là bài học thực tiễn phù hợp nhất cho Lạc Dương. Địa phương có thể học hỏi quy trình chuẩn hóa tiêu chuẩn nhà nghỉ dân dã do cộng đồng quản lý, thành lập ban điều phối chuyên trách từ cấp huyện đến cấp xã, đồng thời triển khai các chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi và đào tạo kỹ năng tiếp thị số cho các hộ gia đình bản địa.

Giải pháp cấp bách nào cần triển khai trước tiên để phát triển du lịch cộng đồng tại Lạc Dương? Giải pháp tiên quyết là nâng cao hiệu lực quản lý thông qua việc thành lập Ban quản lý Du lịch cộng đồng tại các xã Lát, Đạ Nhim, Đạ Chais, kết hợp mở các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch thực hành cho tối thiểu 300 lao động bản địa và đầu tư hoàn thiện hệ thống vệ sinh môi trường, đường giao thông nông thôn đạt chuẩn phục vụ du khách.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn tài nguyên sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hóa với phát triển kinh tế hộ gia đình vùng sâu vùng xa.
  • Đánh giá thực trạng tiềm năng trên địa bàn 130.963,40 ha của huyện Lạc Dương, chỉ ra tiềm năng lớn từ Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà cùng văn hóa bản địa của 72,9% đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời nhận diện rõ những điểm nghẽn về hạ tầng và năng lực nhân lực qua khảo sát 100 du khách và 150 người dân.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao gắn với lộ trình giai đoạn 2018-2025, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp lữ hành và vai trò chủ thể của cộng đồng cư dân 3 xã trọng điểm Lát, Đạ Nhim, Đạ Chais.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị, làm tiền đề vững chắc cho công tác quy hoạch du lịch sinh thái nông thôn và xây dựng các chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững tại tỉnh Lâm Đồng cũng như toàn vùng Tây Nguyên.
  • Kêu gọi các nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu khoa học cùng chung tay triển khai ngay các mô hình điểm du lịch cộng đồng, biến các giá trị văn hóa và sinh thái độc đáo của Lạc Dương thành nguồn lực phát triển kinh tế lâu dài cho người dân bản địa.