Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua đã có bước phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đạt 10,2%/năm và khách nội địa tăng 11,8%/năm. Theo số liệu thống kê năm 2016, cả nước đã đón 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 4,3 lần so với năm 2001, cùng 62 triệu lượt khách nội địa, tăng 5,3 lần so với năm 2001, đóng góp trực tiếp 6,8% vào GDP và tạo sức lan tỏa đạt 14% GDP. Nằm trong bức tranh phát triển chung đó, làng cổ Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là ngôi làng thứ hai của Việt Nam được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia vào tháng 6 năm 2009, chỉ sau làng cổ Đường Lâm.

Mặc dù sở hữu quần thể 26 ngôi nhà rường cổ hàng trăm năm tuổi cùng nghề gốm truyền thống ven sông Ô Lâu, hiệu quả khai thác kinh tế du lịch tại Phước Tích vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của một di sản cấp quốc gia. Hoạt động du lịch còn mang tính tự phát, doanh thu dịch vụ đạt thấp và khả năng giữ chân du khách còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, luận văn tập trung giải quyết bài toán: Làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng di sản văn hóa thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương?

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch làng di sản; phân tích thực trạng hoạt động du lịch Phước Tích giai đoạn 2013 - 2016; chỉ ra những rào cản nội tại; và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Phong Điền với diện tích tự nhiên 953,751 km2. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp luận cứ khoa học giúp tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư công hơn 74 tỷ đồng, nâng cao thu nhập cho 40 hộ dân trực tiếp làm dịch vụ và gia tăng tỷ lệ khách quốc tế đến điểm đến di sản này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và du lịch văn hóa theo quy chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ. Khái niệm du lịch văn hóa được xác định là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa bản địa với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống. Đồng thời, tác giả vận dụng 6 tiêu chí nhận diện làng cổ của Giáo sư Phạm Đình Việt, bao gồm: giá trị lịch sử văn hóa, niên đại công trình trên 100 năm, chức năng sử dụng gốc, cấu trúc không gian hình xương cá, giá trị vật chất của hệ thống nhà rường và giá trị nghệ thuật kiến trúc điêu khắc.

Khung phân tích phát triển du lịch được lượng hóa thông qua 4 chiều cạnh:

  • Quy mô tăng trưởng: Đo lường qua tổng lượt khách, tổng ngày khách, tổng doanh thu và tốc độ tăng trưởng liên hoàn hàng năm.
  • Chất lượng phát triển: Đánh giá qua tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, sự đa dạng của sản phẩm tour tuyến và chỉ số hài lòng của du khách theo thang đo Likert.
  • Chuyển dịch cơ cấu: Phân tích tỷ trọng giữa khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa cùng cơ cấu chi tiêu cho lưu trú, ẩm thực, quà lưu niệm.
  • Hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường: Đo lường số việc làm tạo ra cho cư dân bản địa, mức độ đóng góp ngân sách và năng lực bảo tồn cảnh quan sinh thái.

Ngoài ra, luận văn còn kế thừa bài học thực tiễn từ mô hình bảo tồn gắn với sinh kế tại làng cổ Tùng Phan (Trung Quốc), cơ chế đặc khu kinh tế đón 11,5 triệu lượt khách tại đảo Jeju (Hàn Quốc năm 2014 thu về 7.000 tỷ won), kinh nghiệm đa dạng hóa trải nghiệm nông nghiệp tại Đường Lâm (Hà Nội, đón 135.000 lượt khách) và chuỗi liên kết sản phẩm di sản tại Hội An (Quảng Nam với mục tiêu 3,09 triệu lượt khách năm 2020).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND huyện Phong Điền, Chi cục Thống kê huyện, UBND xã Phong Hòa và Ban Quản lý Di tích làng cổ Phước Tích giai đoạn 2013 - 2016.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập trực tiếp qua các đợt điều tra thực địa được triển khai từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2017.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu:

  • Phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý then chốt gồm Giám đốc Ban quản lý làng cổ Phước Tích, Chủ tịch UBND xã Phong Hòa và Trưởng thôn Phước Phú nhằm thu thập thông tin về quy hoạch và cơ chế chính sách.
  • Khảo sát toàn diện 100% cư dân đang trực tiếp tham gia hoạt động dịch vụ du lịch tại địa phương với cỡ mẫu 40 người.
  • Khảo sát du khách theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Với 38 biến quan sát đo lường chất lượng dịch vụ, quy mô mẫu được tính toán theo công thức chuẩn: n = (38 nhân 5) cộng 20% dự phòng sai số, tương đương kích thước mẫu điều tra thực tế là 228 du khách.

Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, phân tích tần suất, tính toán tỷ lệ phần trăm và tổng hợp so sánh các chỉ tiêu kinh tế qua 4 năm. Phương pháp này được lựa chọn vì tính minh bạch, trực quan, phù hợp với đặc thù mẫu khảo sát vi mô và phản ánh chính xác thực trạng của một điểm đến di sản đang trong giai đoạn đầu phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô khách và doanh thu: Hoạt động du lịch tại làng cổ Phước Tích giai đoạn 2013 - 2016 ghi nhận tốc độ tăng trưởng dương nhưng quy mô tuyệt đối còn rất khiêm tốn. Lượng khách đến làng cổ mỗi năm chỉ đạt vài nghìn lượt, thấp hơn đáng kể so với mốc 135.000 lượt của làng cổ Đường Lâm. Doanh thu từ vé tham quan và dịch vụ bổ trợ chưa tạo ra bước đột phá về nguồn thu ngân sách.

Thứ hai, về thời gian lưu trú và cơ cấu chi tiêu: Thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt khoảng 1,1 đến 1,2 ngày/khách. Đa số du khách tham quan theo hình thức tour ngắn nửa ngày và rời đi ngay. Hệ thống cơ sở lưu trú homestay mới phát triển thử nghiệm với số lượng phòng rất ít, dẫn đến tỷ trọng chi tiêu cho lưu trú và dịch vụ ăn uống tại chỗ chỉ chiếm dưới 20% trong tổng mức chi tiêu của một chuyến đi.

Thứ ba, về chất lượng nguồn nhân lực và sản phẩm: Toàn bộ 40 lao động bản địa tham gia hoạt động du lịch đều là lao động kiêm nhiệm nông nhàn. Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ du lịch và ngoại ngữ đạt dưới 10%. Sản phẩm du lịch nghèo nàn, chủ yếu dựa vào việc tham quan kiến trúc nhà rường có sẵn; làng nghề gốm cổ truyền thống chưa phục dựng được quy trình sản xuất thương mại để tạo ra các món quà lưu niệm đặc sắc.

Thứ tư, về cơ cấu thị trường và sự hài lòng: Khách quốc tế chiếm tỷ trọng khoảng 35% đến 40% trong cơ cấu khách, chủ yếu đến từ thị trường Pháp và Tây Âu ưa chuộng trải nghiệm văn hóa. Kết quả khảo sát 228 du khách cho thấy cảnh quan sinh thái và sự hiếu khách đạt điểm hài lòng cao trên 4,2/5 điểm Likert, nhưng các dịch vụ giải trí, mua sắm và ẩm thực địa phương bị đánh giá thấp dưới 3,0/5 điểm. Thu nhập từ du lịch chỉ đóng góp khoảng 15% đến 20% vào tổng thu nhập hộ gia đình của cư dân tham gia.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan qua bảng tổng hợp doanh thu 4 năm và biểu đồ phân bổ thời gian lao động trong tuần, khi có tới hơn 70% thời gian của người dân vẫn dành cho sản xuất nông nghiệp thuần túy.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu vắng của một chiến lược xúc tiến bài bản và việc thiếu kết nối tour tuyến với trung tâm Cố đô Huế cách đó 40 km. Khi so sánh với đảo Jeju (nơi áp dụng chính sách miễn thị thực cho 182 quốc gia) hay phố cổ Hội An (nơi thành công trong việc mở rộng chuỗi du lịch sinh thái nông nghiệp Cẩm Thanh và làng mộc Kim Bồng), Phước Tích vẫn còn lúng túng trong việc kết hợp giữa bảo tồn di sản vật thể và phát triển kinh tế dịch vụ. Nguồn vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2013 - 2016 mới chỉ tập trung vào một số hạng mục hạ tầng giao thông cơ bản mà chưa đầu tư thỏa đáng cho việc đào tạo con người và xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm gốm đặc thù. Điều này khiến điểm đến chưa khai thác hết giá trị gia tăng trên mỗi lượt khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm phát triển du lịch làng cổ Phước Tích đến năm 2020 bao gồm:

Thứ nhất, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Nâng cấp 100% các tuyến đường xương cá nội thôn bằng vật liệu gạch truyền thống hài hòa với cảnh quan; xây dựng mới bến thuyền du lịch trên sông Ô Lâu để khai thác tuyến du lịch đường thủy; phục dựng hoàn chỉnh 5 lò gốm cổ phục vụ du khách trải nghiệm trực tiếp; đồng thời chuẩn hóa 10 cơ sở lưu trú homestay đạt tiêu chuẩn tiếp đón khách quốc tế trước quý IV năm 2019. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Phong Điền chủ trì, phối hợp Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thứ hai, tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá và liên kết thị trường. Xây dựng cổng thông tin số hóa đa ngôn ngữ và bộ nhận diện thương hiệu du lịch làng cổ Phước Tích; ký kết hợp đồng liên kết tour với ít nhất 15 doanh nghiệp lữ hành hàng đầu tại miền Trung; thiết lập tuyến du lịch chuyên đề kết nối di sản Huế - Phước Tích - Địa đạo Vịnh Mốc với mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng khách quốc tế lên 25%/năm trong giai đoạn 2018 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Di tích làng cổ Phước Tích và Hiệp hội Du lịch tỉnh.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch cộng đồng. Mở 12 lớp tập huấn chuyên đề về kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ tiếng Anh, văn hóa phục vụ bàn, kỹ thuật nấu ăn truyền thống và nghiệp vụ thuyết minh viên di sản cho 100% trong số 40 hộ dân hiện tại và mở rộng thêm 60 lao động trẻ tại địa phương; đảm bảo trên 80% lao động trực tiếp có chứng chỉ nghiệp vụ du lịch vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Dạy nghề huyện Phong Điền phối hợp UBND xã Phong Hòa.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý, bảo tồn di sản và chia sẻ lợi ích cộng đồng. Ban hành cơ chế trích lại 30% tổng nguồn thu từ vé tham quan để lập quỹ hỗ trợ trùng tu 26 ngôi nhà rường cổ; triển khai mô hình quản lý du lịch dựa vào cộng đồng nhằm phân phối công bằng lợi ích kinh tế, nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ du lịch lên mức 35% - 40% trong tổng thu nhập của các hộ tham gia trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: UBND xã Phong Hòa và Ban đại diện cộng đồng làng Phước Tích.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý di tích: Cung cấp cơ sở khoa học để UBND huyện Phong Điền và Sở Du lịch Thừa Thiên Huế xây dựng đề án quy hoạch tổng thể, ban hành chính sách phân bổ ngân sách đầu tư hạ tầng và thiết lập quy chế bảo tồn 26 ngôi nhà rường cổ song hành với phát triển kinh tế.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Cung cấp bức tranh phân tích thị trường chi tiết, giúp các công ty lữ hành thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa nông thôn mới lạ, xây dựng tour học tập làng nghề gốm và khai thác các dịch vụ lưu trú homestay cao cấp dọc sông Ô Lâu.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu 228 du khách, ứng dụng thang đo Likert và khung phân tích 4 chiều trong đánh giá tiềm năng du lịch di sản làng nghề.
  • Cộng đồng cư dân và các hợp tác xã làng nghề: Cung cấp cẩm nang thực hành thực tế, giúp người dân địa phương hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm, từ đó tự tin chuyển đổi mô hình kinh tế từ nông nghiệp thuần túy sang cung ứng dịch vụ du lịch cộng đồng chuyên nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Làng cổ Phước Tích có những giá trị di sản nổi bật nào để thu hút du khách? Phước Tích sở hữu quần thể 26 ngôi nhà rường cổ có niên đại từ 100 đến trên 500 năm, hệ thống cây di sản hàng trăm năm tuổi và nghề gốm đất nung truyền thống từng tiến vua. Cấu trúc làng được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu với mạng lưới đường xương cá đặc trưng, tạo nên không gian văn hóa nguyên sơ của làng quê Trung Bộ.

Căn cứ khoa học nào xác định kích thước mẫu khảo sát 228 du khách? Nghiên cứu sử dụng 38 biến quan sát để đo lường các yếu tố chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. Quy tắc chọn mẫu chuẩn yêu cầu số mẫu tối thiểu bằng 5 lần số biến quan sát, tương đương 190 mẫu. Tác giả đã cộng thêm 20% mẫu dự phòng sai số, nâng tổng quy mô mẫu điều tra thực tế lên 228 du khách nhằm đảm bảo tính đại diện.

Tại sao thời gian lưu trú của du khách tại Phước Tích giai đoạn 2013 - 2016 còn thấp? Thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,1 đến 1,2 ngày do làng thiếu các dịch vụ trải nghiệm về đêm, cơ sở lưu trú homestay còn ít và chưa đạt chuẩn tiện nghi. Ngoài ra, việc thiếu các hoạt động giải trí bổ trợ và điểm mua sắm ẩm thực phong phú khiến du khách thường chỉ tham quan trong vài giờ rồi di chuyển sang điểm đến khác.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào phù hợp nhất để Phước Tích học tập? Mô hình bảo tồn làng cổ Tùng Phan của Trung Quốc là bài học phù hợp nhất. Điểm mấu chốt là chính quyền tập trung hoàn thiện hạ tầng kết nối, tạo điều kiện cho người dân khôi phục nghề thủ công truyền thống để bán trực tiếp cho khách, giúp hàng trăm hộ dân tộc thiểu số làm giàu bền vững từ việc giữ gìn bản sắc văn hóa.

Giải pháp nào mang tính then chốt để nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương? Giải pháp đột phá là khôi phục nghề gốm cổ thành sản phẩm trải nghiệm du lịch thực tế và chuẩn hóa 10 điểm homestay gia đình. Việc biến di sản thành dịch vụ trải nghiệm giúp kéo dài thời gian lưu trú, nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch lên mức 35% - 40% trong cơ cấu thu nhập của 40 hộ dân tham gia.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 kết quả then chốt:

  • Hệ thống hóa khung lý luận phát triển du lịch làng di sản gắn với bộ tiêu chí nhận diện làng cổ truyền thống.
  • Phân tích chi tiết thực trạng du lịch Phước Tích giai đoạn 2013 - 2016 qua mẫu khảo sát 228 du khách, 40 hộ dân và 3 nhà quản lý.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn về tính thời vụ, sự đơn điệu của sản phẩm gốm và tính thiếu chuyên nghiệp của nguồn nhân lực.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hạ tầng, nhân lực, xúc tiến và cơ chế tài chính định hướng đến năm 2020.
  • Khẳng định mô hình du lịch dựa vào cộng đồng là con đường tất yếu để bảo tồn nguyên vẹn 26 ngôi nhà rường cổ.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và giải pháp quản trị kinh doanh mang tính ứng dụng cao cho điểm đến di tích cấp quốc gia. Lộ trình thực hiện cần tập trung hoàn thiện hạ tầng và đào tạo 100% nhân lực trong giai đoạn 2018 - 2020. Chính quyền địa phương, các doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng cư dân cần nhanh chóng phối hợp hành động để đưa làng cổ Phước Tích trở thành điểm sáng du lịch văn hóa bền vững của tỉnh Thừa Thiên Huế.