phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương, 9 tiết: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch bền vững. Chƣơng 2: Thực trạng du lịch ở Hà Tĩnh. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp từ nay đến năm 2020 để phát triển du lịch bền vững ở Hà Tĩnh. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1.
Cơ sở lý luận phát triển du lịch bền vững 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch, tiêu biểu có một số định nghĩa như: Theo liên hiệp các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống [46]. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21.1963), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ [14, tr. Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [20, tr. Trong giới hạn của luận văn, luận văn sử dụng khái niệm du lịch trong luật du lịch năm 2005. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là một thuật ngữ được nhiều quốc gia và các chính trị gia sử dụng rộng rãi, mặc dù đến nay quan niệm này còn tương đối mới mẻ 6 và còn chưa thống nhất về cách hiểu, cách diễn đạt.
Ví dụ như cuốn từ điển Đa dạng phát triển sinh học bền vững cho rằng, sự phát triển đem lại lợi ích lâu dài về kinh tế, xã hội và môi trường mà có quan tâm đến nhu cầu của thế hệ tương lai được gọi là phát triển bền vững (PTBV); còn theo định nghĩa cổ điển của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới thì: “PTBV là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu vầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu thoả mãn của thế hệ mai sau” [8, tr. PTBV phải đạt được sự cân bằng tổng thể trong ba lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường. Đây chính là ba thành tố trụ cột của PTBV mà bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào muốn đạt được mục tiêu PTBV đều phải quan tâm. Sự phát triển trong từng lĩnh vực phải gắn bó mật thiết, hữu cơ, biện chứng với nhau.
PTBV phải đảm bảo rằng sản xuất, sinh hoạt của con người luôn nằm trong giới hạn kiểm soát được. Khả năng tải của môi trường sẽ chịu đựng mức ô nhiễm có giới hạn mà nếu vượt quá mức ấy sẽ gây tình trạng mất cân bằng sinh thái. Nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng dài hạn, ổn định kèm theo các điều kiện sống của con người được nâng cao. Môi trường sống ngày càng được cải thiện, trong sạch hơn.
Những thành tựu của sự phát triển được thế hệ mai sau để kế thừa và phát huy. Thông thường sự bình đẳng giữa các thế hệ được hiểu là sẽ không đạt được nếu thiếu đi sự công bằng xã hội trong hiện tại hoặc các hoạt động của nhóm kinh tế này gây tổn hại đến lợi ích và cuộc sống của nhóm người khác. Có thể nói rằng, tất cả các sự vật hiện tượng, trong đó bao gồm cả con người đều nằm trong quá trình vận động, phát triển nhưng sự phát triển phải đáp ứng đầy đủ được ba chức năng cơ bản là: tạo cho con người một không gian sống với phạm vi và chất lượng tiện nghi hơn; cung cấp cho con người các tài nguyên để sản xuất; xử lý, đồng hoá các phế thải sản xuất và sinh hoạt, đảm bảo các phế thải không gây ô nhiễm môi trường. PTBV nhằm đạt được nhiều mục tiêu khác nhau 7 Mục tiêu kinh tế: tăng trưởng, hiệu quả và ổn định.
Mục tiêu xã hội: công bằng, việc làm đầy đủ, an ninh, giáo dục, y tế, sự tham gia của cộng đồng và bản sắc văn hoá. Mục tiêu môi trường: sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được và không thể tái tạo được, luôn tạo ra môi trường trong sạch cho con người. Giữa các mục tiêu có mối liên hệ đặc biệt, nếu bỏ qua một mục tiêu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của các mục tiêu khác. Việc giải quyết cân đối giữa các mục tiêu là thách thức to lớn đối với các quốc gia và các vùng lãnh thổ.
Du lịch bền vững Theo World Conservation Union, 1996, du lịch bền vững là: “việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hóa kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương” [39]. Theo định nghĩa của WTO đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janero năm 1992 thì: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. DLBV sẽ có kế hoạch quản ký các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”[39]. DLBV ở Việt Nam là một khái niệm còn mới mẻ.
Mặc dù còn những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” (PTDLBV), tuy nhiên đến nay đa số các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác có liên quan ở Việt Nam đều cho rằng: PTDLBV là hoạt 8 động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng cuả khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển về hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. Hiến chương DLBV được đưa ra tại hội nghị thế giới về DLBV tổ chức ở Lanzarote, Canary Islands, Tây Ban Nha, trong đó nêu ra quan điểm về DLBV như sau: “nhận thức được rằng du lịch, một hiện tượng mang tính hai mặt ở chỗ du lịch vừa có khả năng đóng góp một cách tích cực vào những thành tựu kinh tế - xã hội cũng như chính trị, đồng thời nó cũng một phần dẫn tới sự xuống cấp về môi trường và mất đi những bản sắc của từng địa phương, phải được xem xét giải quyết trên cơ sở một hệ tư tưởng có tính toàn cầu” [47]. Đứng trên góc độ từ những địa phương cung cấp du lịch thì: du lịch bền vững là hoạt động du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà họ phụ thuộc vào. Như vậy, các khái niệm, quan điểm về du lịch bền vững có khác nhau trong ngôn ngữ nói, nhưng nhìn chung đều dựa trên khái niệm phát triển bền vững và phát triển thêm, chi tiết, cụ thể hơn.
Trong khái niệm Du lịch bền vững, ngoài việc đảm bảo nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ tương lai nói chung, bên cạnh đó còn chỉ ra mối liên hệ giữa nhu cầu của khách du lịch và cuộc sống của người dân bản địa. Tóm lại, du lịch bền vững là hoạt động du lịch đảm bảo thỏa mãn ba điều kiện: + Hoạt động du lịch để tăng trưởng kinh tế. + Hoạt động du lịch để phát triển văn hóa - xã hội. 9 + Hoạt động du lịch để bảo tồn và phát triển môi trường tự nhiên.
Mục tiêu của du lịch bền vững Phát triển DLBV nhằm đạt được những mục tiêu: Một là: Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường. Hai là: Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển Ba là: Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa Bốn là: Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách Năm là: Duy trì chất lượng môi trường Đến nay, chiến lược để đạt đến DLBV ở Việt Nam còn chưa được xây dựng hoàn chỉnh, đang cần cố gắng để được chấp nhận rộng rãi. Mỗi một tình huống đòi hỏi những tiếp cận và giải pháp khác nhau. Tính đa dạng tự nhiên, văn hoá, xã hội phải được bảo vệ; phát triển du lịch phải được lồng ghép vào chiến lược phát triển của địa phương và quốc gia; người địa phương phải được tham gia vào việc hoạch định kế hoạch và triển khai hoạt động du lịch, hoạt động triểu khai nghiên cứu và giám sát cần được tiến hành.
Theo nguồn IUCN, 1998 thì những nguyên tắc về tính bền vững của du lịch đã được tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới thông qua, cụ thể là: 1. Sử dụng tài nguyên một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội và văn hoá. Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất trong việc phát triển lâu dài. Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải, nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch.