phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương. Tiềm năng phát triển du lịch gắn với di sản tại thành phố Kon Tum Chương 2. Thực trạng phát triển du lịch gắn với di sản tại thành phố Kon Tum Chương 3. Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị di sản ở thành phố Kon Tum 7 Chƣơng 1.
Tiềm năng phát triển du lịch gắn với di sản tại thành phốKon Tum 1. Điều kiện tự nhiên – đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 1. Điều kiện tự nhiên Kon Tum là một tỉnh miền núi biên giới, nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên là 9.689,61km² có tọa độ địa lý từ 13°55’10’’ đến 15°27’15’’ vĩ độ Bắc, từ 107°20’15’’ đến 108°32’30’’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp Lào và Campuchia.
Kon Tum đã trải qua quá trình hình thành với nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi, cho đến nay, mảnh đất này đã mang trong mình một bề dày lịch sử- văn hóa gắn liền với những biến động của quá trình dựng nước và giữ nước dân tộc. Thành phố Kon Tum là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở phía Nam, bên bờ sông Đăk Bla. Từ trên cao nhìn xuống, thành phố Kon Tum có hình lòng chảo. Vị trí của thành phố: Phía Bắc giáp huyện Đăk Hà Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai Phía Đông giáp huyện Kon Rẫy Phía Tây giáp huyện Sa Thầy Thành phố Kon Tum có tọa độ địa lý như sau: từ 14017’ 00” đến 15001’ 58” vĩ độ Bắc, từ 107042’12” đến 108010’00” kinh độ Đông.
Thành phố có vị trí cách Buôn Ma Thuột 246 km, cách Qui Nhơn 215 km và cách Pleiku 49 km; là một thành phố trẻ được thành lập từ năm 2009. Ý nghĩa tên gọi Tên gọi “ Kon Tum” được giải thích theo truyền thuyết của dân tộc Bahnar. Vào thời xa xưa, có một làng người địa phương ở khu vực thành phố Kon Tum hiện nay với tên gọi Kon Trang - Or. Lúc ấy, làng Kon Trang - Or rất thịnh vượng với dân số khá đông.
Trong khoảng thời gian này, giữa các buôn làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của Ja Xi - 8 một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - Or tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh nên làm nhà ở riêng gần hồ nước, cạnh dòng Đăk Bla. Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư nên dần dần có nhiều người đến ở, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum. Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho nơi đây (Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là “Làng Hồ”, Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước.
Với vị trí là vùng đất bằng, được dòng Đăk Bla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ, trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi về mặt địa giới và tên gọi nhưng vẫn là mảnh đất an lành cho các dân tộc anh em cùng sinh sống [19] Lịch sử hình thành Các nhà truyền giáo thuộc Pháp đã đến Kon Tum từ năm 1851. Nơi đây là trung tâm hành chính cũ của Pháp ở Tây Nguyên. Sau năm 1975, thị xã Kon Tum thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum, gồm 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 11 xã: Đăk Blà, Đăk Cấm, Đăk La, Đăk Uy, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Ia Ly, K'roong, Ngọk Bay, Vinh Quang [1] Ngày 10 tháng 10 năm 1978, chia Ia Ly thành 2 xã: xã Ia Ly thuộc Gia Lai, phía Nam sông Sê San và phía Bắc là xã Ia Ly thuộc Kon Tum, chuyển về huyện Sa Thầy quản lý1. Ngày 17 tháng 8 năm 1981, chia xã Đoàn Kết thành 2 xã: Đoàn Kết và Chư H'reng; chia xã Đăk Cấm thành 2 xã: Đăk Cấm và Ngọk Réo2.
Ngày 1 tháng 2 năm1985, chia xã Đăk La thành 2 xã: Đăk La và Hà Mòn. Đầu năm 1991, thị xã Kon Tum có 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 13 xã: Chư H'reng, Đăk Blà, Đăk Cấm, Đăk La, Đăk Uy, Đoàn Kết, Hà Mòn, Hòa Bình, Ia Chim, K'roong, Ngọk Bay, Ngọk Réo, Vinh Quang. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Kon Tum từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum, thị xã Kon Tum trở lại là tỉnh lị của tỉnh Kon Tum. 1 Quyết định 254- CP về việc chia tách huyện Đăk Tô thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum, năm 1978 2 Quyết định 30- HĐBT về điều chỉnh địa giới một xã và thị trấn thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum, năm 1981 9 Ngày 24 tháng 3 năm 1994, tách 4 xã: Đăk La, Hà Mòn, Đăk Uy, Ngọk Réo để thành lập huyện Đăk Hà.
Ngày 22 tháng 11 năm 1996, chia xã Chư H'reng thành 2 xã: Chư H'reng và Đăk Rơ Wa3. Ngày 3 tháng 9 năm 1998, thành lập phường Lê Lợi; chia phường Quang Trung thành 2 phường: Quang Trung và Duy Tân. Ngày 8 tháng 1 năm 2004, chia xã Hòa Bình thành xã Hòa Bình và phường Trần Hưng Đạo; chia xã Vinh Quang thành xã Vinh Quang và phường Ngô Mây; chia xã Đoàn Kết thành xã Đoàn Kết và phường Nguyễn Trãi; thành lập phường Trường Chinh. Ngày 7 tháng 10 năm 2005, thị xã Kon Tum được công nhận là đô thị loại III4.
Ngày 9 tháng 6 năm 2008, chia xã Ia Chim thành 2 xã: Ia Chim và Đăk Năng. Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Hội đồng Nhân dân Tỉnh đã thông qua đề án thành lập thành phố Kon Tum trên cơ sở diện tích và dân số hiện tại của thị xã Kon Tum. Ngày 13 tháng 9 năm 2009, thị xã Kon Tum chính thức trở thành thành phố Kon Tum. Năm 2013, thành phố điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây trên cơ sở 1.098,43 ha diện tích tự nhiên và 1.628 nhân khẩu của xã Vinh Quang.
Hiện nay, thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm: 10 phường là: Quyết Thắng, Thắng Lợi, Quang Trung, Thống Nhất, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Ngô Mây, Trường Chinh, Lê Lợi và Duy Tân. 11 xã là: Hoà Bình, Ia Chim, Đoàn Kết, Vinh Quang, Ngọc Bay, Kroong, Đăk Cấm, Đăk Blà, Chư Hreng, Đăk Năng, Đăk Rơ wa5. Địa hình Thành phố Kon Tum được bao quanh là núi thấp có độ cao từ 600-1000m, với 3 dạng địa hình đặc trưng: 3 Nghị định 73- CP về việc thành lập các xã và thị trấn thuộc các huyện Kon Plông, Đăk Glei, Ngọc Hồi, Đăk Hà và thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, năm 1996 4 Quyết định 1900/2005/QĐ-BXD công nhận thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum là đô thị loại III 5 Niên giám thống kê thành phố Kon Tum, năm 2013 10 Địa hình núi thấp, phân bổ xung quanh thành phố chủ yếu ở phía Bắc và phía Đông, Đông - Nam (xã Đăk Cấm, Đăk BLà, Đăk Rơ Wa). Địa hình này thích hợp với kinh tế trồng cây công nghiệp lâu năm và lâm nghiệp.
Địa hình đồi núi với độ cao 530 - 600m nằm tiếp giáp và xen kẽ với địa hình thấp trũng. Đây là địa bàn chủ yếu để phát triển cây công nghiệp dài ngày, trồng màu, trồng cây lương thực, cây ăn quả. Địa hình đồng bằng trũng có độ cao 500-530m, được phân bố dọc theo sông Đăk Bla và hệ thống sông suối nhỏ ở các xã ngoại thành. Đây là địa bàn sản xuất cây ngắn ngày, nhất là lương thực (lúa nước) và vùng thường xuyên bị ngập lụt trong mùa mưa.
Địa hình thành phố Kon Tum rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp, phát triển nông nghiệp toàn diện, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển đô thị. Khí hậu Thành phố Kon Tum nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới - gió mùa cao nguyên với các đặc trưng: Nhiệt độ trung bình năm 23,20C, nhiệt độ cao tuyệt đối 37,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 4,50C, chênh lệch nhiệt độ ngày/đêm là 90C, tổng tích ôn trung bình 85000C, ánh sáng dồi dào6. Lượng mưa trung bình năm là 1.764mm nhưng phân bố không đều. Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 10 với 85- 90% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau chỉ có 10 - 15% lượng mưa cả năm.
Độ ẩm trung bình 78- 80%. Chế độ khí hậu đặc trưng nêu trên cùng với sự đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng cho phép thành phố Kon Tum phát triển nhiều loại cây trồng như: cà phê, sắn, mắc ca, hồ tiêu.; các vật nuôi như: bò, lợn.; đây là thuận lợi lớn trong phát triển nông nghiệp ở thành phố Kon Tum. Thuỷ văn Nguồn nƣớc mặt Hiện nay trên địa bàn thành phố Kon Tum có 02 con sông lớn chảy qua và nhiều suối nhỏ được phân bố trên địa bàn thành phố. Cụ thể là: 6 Thống kê của đài khí tượng thủy văn tỉnh Kon Tum 11 Sông Đăk Bla: bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn thuộc huyện Kon Plông chảy từ Đông sang Tây, lưu lượng vào mùa mưa trùng bình khoảng 2.040 m3/s, mùa khô trung bình khoảng 14.1m3/s, là nguồn cung cấp nước sạch chính cho toàn thành phố.
Sông Krông PôKô: bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn thuộc huyện Đăk GLei chảy từ Bắc xuống Nam, lưu lượng trung bình khoảng 390m3/s cung cấp lượng nước dồi dào cho sinh hoạt và sản xuất7. Hai con sông này đều ít nước về mùa khô và chảy mạnh về mùa mưa. Nguồn nƣớc ngầm Nguồn nước ngầm ở tỉnh Kon Tum có tiềm năng và trữ lượng công nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m có trữ lượng tương đối lớn. Kết quả điều tra của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn miền Nam cho thấy mực nước ngầm của Kon Tum thường phân bố ở độ sâu từ 10 m -25 m, lưu lượng các lỗ khoan từ 1-3 lít/s.
Với trữ lượng nước ngầm như vậy có thể đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng [19] Nằm trong khu vực có lượng mưa trung bình hàng năm khá cao từ 1800 mm- 2000 mm cùng với trữ lượng nước ngầm khá lớn, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu nước sạch cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của thành phố Kon Tum. Bên cạnh đó, do lượng mưa tập trung 80% vào các tháng mùa mưa nên thành phố luôn đặc biệt chú trọng vấn đề điều tiết nước, chống xói mòn và bảo vệ các công trình thủy điện, thủy lợi để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này.