Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP QUÂN ĐỘI THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ GV - Những nghiên cứu ở ngoài nước: Vấn đề ĐNGV và phát triển ĐNGV đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Learning to teach (Richard I.Arends, 1998), Education portal and distance learning project (Andrew Scryner, 2004), Information technology training Programs for students and teachers (Hary Kwa, 2004),.
Nhìn chung, khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lí phát triển nguồn nhân lực, các nghiên cứu đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV, năng lực của GV. Với việc phát triển của các phương tiện công nghệ dạy học hiện đại, nội dung kiến thức các ngành khoa học ngày càng phong phú,. dẫn đến yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, vai trò của ĐNGV. Các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh: Trong quá trình xây dựng, phát triển ĐNGV không chỉ quan tâm đến việc nâng cao chất lượng ĐNGV mà còn phải chú trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững, thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ, quan tâm cách thức bồi dưỡng theo mô đun, kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV, coi trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo sư với trợ giảng và trợ lí.Beerens - tác giả cuốn “Creating a Culture of Montivation and Learning ” cho rằng: Tính động trong tăng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của ĐNGV hiện nay.
Ông chủ trương tạo ra một nền văn hóa về sự thúc đẩy và thường xuyên học tập của ĐNGV, coi đó là giá trị mới, chính yếu của nhà giáo [91]. 10 OsDonnel (1986) Modular Design in TAFE caurses, NSW, Sydnel. Raja Roy Singh, (1991), Education for the Twenty - first Century Asia - Pacific Perspectives, Unesco Principal egional office for Asiaand the Pacific Bangkok: Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì với vấn đề cốt lõi là: GV phải tận tâm với HS và việc học; GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các bộ môn khác; GV phải có trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý kiểm tra, đánh giá việc học của HS; GV phải thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; GV phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác với cha mẹ HS. Chất lượng ĐNGV là chủ đề được các nhà khoa học giáo dục ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đến nay đã có nhiều công trình được công bố.
Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hơp tác Phát triển Châu Âu) chất lượng nhà giáo gồm các nội dung sau: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp [100]. Fielden J (1998), Phát triển ĐNGV là yêu cầu của trường TCCNQĐ đứng trước những thách thức của nhu cầu học tập ngày càng lớn của dân số, do sự đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội trong hoàn cảnh mới, sự thay đổi của công nghệ, các yêu cầu mới của thị trường lao động. Theo tổng kết của UNESCO, trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người GV đã có thay đổi theo các phương hướng sau đây: Đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; Coi trọng việc cá biệt hóa trong học 11 tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Yêu cầu rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do đó yêu cầu trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết; Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa giáo viên với nhau; Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; Yêu cầu giáo viên tham gia các hoạt động rộng rãi ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi uy tín truyền thống trong quan hệ với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh. GV trường TCCNQĐ họ có thể căn cứ vào những yêu cầu này mà chọn một số lĩnh vực cần thiết nhất đối với mình để đi sâu.
Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện đại của tổ chức UNESCO chỉ rõ: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức” và đặc biệt là chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất” [82]. Nội dung nghiên cứu đã đề cập nhiều đến vai trò của người thầy giáo nói chung, nhưng chưa có một nhận xét đánh giá nào về năng lực ĐNGV trường TCCNQĐ, về vấn đề phát triển ĐNGV, các nhà khoa học giáo dục ở mỗi nước, các tổ chức giáo dục quốc tế đã chú trọng nghiên cứu và đi đến những tiêu chí chuẩn hóa ĐNGV cùng những giải pháp, kinh nghiệm nhằm xây dựng, phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực mới cho thời kỳ hội nhập quốc tế. Michael Fullan và Andy Hargreaves đã xác định các phương diện của sự phát triển giáo viên trong cuốn “Teacher development and educational change” (1992): Phát triển tâm lý; phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; phát triển chu kỳ nghề nghiệp. Theo Blackwell R, Blackmore p (2003), phát triển đội ngũ nằm trong chiến lược của các nhà trường quân đội; các tác giả đưa ra nhiều giải pháp khác nhau về phát triển đội ngũ: Xây dựng các khoa thành những cộng đồng học tập và đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích việc dạy học dựa trên các kết quả 12 nghiên cứu; đưa công nghệ thông tin vào quá trình bồi dưỡng đội ngũ và tạo các điều kiện hỗ trợ việc phát triển đội ngũ [88] Từ cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên theo xu hướng chuẩn nghề nghiệp được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới.
Nhiều nước đã xây dựng chuẩn cho nền giáo dục của mình, gồm: Chuẩn chất lượng, chuẩn trường, chuẩn cán bộ quản lý, chuẩn giáo viên. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đều coi ĐNGV, phát triển ĐNGV là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng và sự phát triển của nền giáo dục, quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của ĐNGV ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn. Đồng thời, các nghiên cứu cũng đưa ra nhiều giải pháp khác nhau để phát triển ĐNGV như: Xây dựng chuẩn nghề nghiệp, các tiêu chí, yêu cầu, phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại. - Những nghiên cứu ở trong nước: Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ta đã được công bố khá phong phú, đa dạng, gồm các sách chuyên khảo, các bài tạp chí, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ, các văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước,.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau đây: + Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chất lượng của ĐNGV Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục,. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”. Do đó, xây dựng và phát triển ĐNGV là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta. Tác giả Trần Đình Tuấn trong bài nghiên cứu về vai trò của ĐNGV đã khẳng định:Chất lượng đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo [68].
Tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng: Có 2 lý do chính phải quan tâm hàng đầu về phát triển ĐNGV các nhà trường đó là: Trình độ đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền 13 kinh tế hàng hóa; Chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi nhà trường, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo [56]. Theo tác giả Phan Văn Kha, nội dung đổi mới căn bản quản lí nhà nước về giáo dục và quản lí cơ sở giáo dục là đổi mới căn bản về chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục; Đảng, Nhà nước cần có chính sách đặc biệt đối. với đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục vì giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội, thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho đất nước, trong đó đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục có vai trò quyết định đảm bảo chất lượng hiệu quả giáo dục; về đổi mới căn bản và toàn diện [47]. Vấn đề GV và chuẩn hóa ĐNGV không chỉ được các nhà giáo dục, các nhà kinh điển Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật giáo dục và nghị định, hướng dẫn thực hiện của Chính phủ mà còn được đề cập trong chỉ thị, nghị quyết của Đảng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị.
Nghị quyết 93 của Đảng ủy Quân sự Trung ương về đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, GV trường TCCN xây dựng nhà trường chính quy đã xác định xây dựng ĐNGV: Bồi dưỡng ĐNGV và cán bộ QLGD: Đổi mới kiến thức, nâng cao trình độ học vấn, kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp sư phạm [24].