phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. 4 z - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. - Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng tiểu học ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quát nghiên cứu vấn đề Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo. Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục Việt Nam, ngành GD&ĐT đã rất coi trọng đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học. Những năm gần đây, có nhiều bài viết của nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề xây dựng đội ngũ nhà giáo, vai trò của đội ngũ nhà giáo cũng nhƣ những yêu cầu về chất lƣợng của đội ngũ trong công tác đào tạo thế hệ trẻ và đã đƣa ra một số giải pháp để thực hiện công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo.
Đất nƣớc ta đang thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TƢ Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI về đổi mới căn bản GD&ĐT đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế. Trong hơn 20 năm đổi mới, nhiều giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên các cấp học, bậc học đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng rộng rãi, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học lớn có liên quan đến ĐNGV ở các cấp học, bậc học đã đƣợc thực hiện. Những năm gần đây, đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả bàn về vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV ở các cấp học, ngành học. Trong các bài viết đó, các tác giả đã đề cập đến vai trò, vị trí của đội ngũ nhà giáo, đến yêu cầu về chất lƣợng đội ngũ trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Đồng thời cũng đƣa ra một số giải pháp nhằm phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Nhƣ thế, có thể nói rằng: Quản lý để nâng cao chất lƣợng ĐNGV là một yêu cầu khách quan, một việc làm phù hợp với xu thế phát triển của đất nƣớc. 6 z Ở nƣớc ngoài có các tác giả nhƣ: M. Ở nƣớc ta có các tác giả nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Nguyễn Ngọc Quang (Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục, Trƣờng Cán bộ quản lý GD-ĐT Trung ƣơng I, Hà Nội, 1989) ; Đinh Quang Báo (2007, Giải pháp đổi mới phƣơng thức đào tạo nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên); Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007, Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên); Cùng với các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức và một số tác giả khác về công tác quản lý giáo dục đã thật sự góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển nền giáo dục nƣớc nhà.
Bên cạnh đó còn có những tác giả của các luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục nhƣ: “Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên trƣờng tiểu học đạt chuẩn quốc gia thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá” (Nguyễn Văn Tuấn – 2009). “ Biện pháp quản lý bồi dƣỡng giáo viên tiểu học TP Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp” ( Dƣơng Thị Minh Hiền – 2010). “Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa” ( Lê Thị Hiền – 2010). “Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Thƣờng Xuân tỉnh Thanh Hoá” ( Lê Xuân Vịnh – 2010).
“ Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học huyện An Dƣơng, Hải Phòng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học” ( Trần Thị Ngọc Bảo – 2011). 7 z Qua tìm hiểu, phân tích đánh giá những đề tài của các tác giả trên đã nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên; những công trình nghiên cứu trên là cơ sở, định hƣớng cho việc nghiên cứu luận văn “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng tiểu học ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử loài ngƣời.
Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt phát sinh từ tính chất xã hội hóa lao động, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao nhƣng đồng thời nó cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Sự cần thiết của quản lý đƣợc Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm cần tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trƣởng”. Có thể xem xét quản lý dƣới các góc độ khác nhau: Ở góc độ chung nhất thì quản lý vạch ra mục tiêu cho bộ máy, lựa chọn phƣơng tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt mục tiêu đã đề ra; Ở góc độ kinh tế, quản lý là sự tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực; Ở góc độ chính trị xã hội, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động; Ở góc độ hành động thì quản lý là quá trình điều khiển.
Sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về các quan niệm về quản lý. - Đại bách khoa toàn thƣ của Liên Xô (1977) định nghĩa: “Quản lý - đó là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh vật, 8 z xã hội, kĩ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chƣơng trình, mục đích hoạt động”. [ 12, tr 5] - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến. [26, tr 17] - Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: Tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể (ngƣời bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
[9, tr 9] Phân tích các định nghĩa trên ta thấy những dấu hiệu chung của quản lý đó là: tính mục đích, sự tƣơng tác giữa chủ thể và đối tƣợng; liên quan tới môi trƣờng xác định. Điều đó khẳng định, bất cứ một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý, có ngƣời quản lý để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục đích của mình. Khoa học quản lý ngày càng phát triển dẫn đến các định nghĩa về quản lý ngày càng phong phú, đa dạng. Những định nghĩa này tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận, nhƣng đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý.
Từ đó có thể khái quát: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tƣợng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, KT-XH bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng. 9 z Công cụ quản lý Chủ thể quản lý Mục tiêu quản lý Khách thể quản lý Nội dung, PP quản lý Môi trƣờng quản lý Sơ đồ 1. Mô hình về quản lý 1. Quản lý giáo dục Hiểu theo nghĩa rộng thì quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội.
Một số nhà nghiên cứu về giáo dục đã đƣa ra khái niệm về quản lý giáo dục nhƣ sau: - P. Khuđominxky: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” - Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lƣợng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục phát triển thƣờng xuyên, quản lý giáo dục đƣợc hiểu là sự điều hành thống nhất giáo dục quốc dân” [2, tr 16 ]. - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở 10 z nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng nhƣ các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”[10, tr 13].
- Theo tác giả Nguyễn Kỳ - Bùi Trọng Tuân: “Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định nhƣ là tác động có hệ thống, có kế hoạch và định hƣớng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trƣờng, các cơ sở giáo dục.