Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV Múa dựa vào năng lực trong bối cảnh HNQT Chương 2: Thực trạng phát triển ĐNGV Múa ở Việt Nam trong bối cảnh HNQT Chương 3: Giải pháp phát triển ĐNGV Múa ở Việt Nam trong bối cảnh HNQT 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN MÚA DỰA VÀO NĂNG LỰC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về phát triển ĐNGV 1. Những nghiên cứu về vị trí, tầm quan trọng của việc phát triển ĐNGV ĐNGV là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng giáo dục.
Muốn quá trình giáo dục thành công chúng ta phải bắt đầu bằng việc công nhận tầm quan trọng của giảng viên. Chính vì vậy đa số các tác giả đều nhấn mạnh vào tầm quan trọng của đội ngũ này trong hệ thống giáo dục, cụ thể như sau: Tác giả Robert J. Marzano trong cuốn What Works in Schools đã xác định GV là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thành tích học tập của người học và cung cấp các bước hành động cụ thể và khả thi để thực hiện thành công các chiến lược nâng cao thành tích của người học và hiệu quả giáo dục công [89]. Đồng quan điểm với Robert J.
Marzano, Giáo sư Scheerens, Đại học Twente đã coi việc phát triển chuyên môn cho GV là phương tiện để đẩy mạnh hiệu quả giáo dục, cụ thể là làm tăng hiệu quả giảng dạy của các GV, củng cố niềm tin và năng lực của GV, tăng cường kĩ năng giảng dạy, phát triển chuyên môn một cách liên tục cho GV [91]. Stronge trong cuốn sách Qualities of Effective Teachers gợi ra hàng loạt câu hỏi về cách những GV truyền cảm hứng cho người học, làm cho người học say mê và lớp học sống động. Bằng việc đề cập và phân tích hàng loạt các vấn đề về điều kiện tiên quyết cho việc giảng dạy hiệu quả, GV với tư cách một người bình thường, quản lý và tổ chức lớp học, lập kế hoạch và tổ chức lớp học giám sát sự tiến bộ và tiềm năng của người học. Tác giả cũng đưa ra những gợi ý khuyến khích các GV nâng cao các 9 phẩm chất và kỹ năng để truyền nhiệt huyết cho việc học tập của người học và quan trọng hơn, giúp học viên thành công [83].
Như vậy, có thể thấy các tác giả nói trên đã luận chứng chặt chẽ, sâu sắc tầm quan trọng của ĐNGV trong giáo dục dựa trên những nghiên cứu khảo sát thực chứng, khẳng định ảnh hưởng quyết định của ĐNGV đến chất lượng và thành tích học tập, tinh thần và thái độ học tập của người học. Những nghiên cứu về các yêu cầu cần phải xác lập của ĐNGV Đa số các công trình nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra rằng các yêu cầu đối với GV đại học bao gồm kiến thức, kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp và các đặc tính khác của một GV. Trong cuốn sách The Art and Science of Teaching, tác giả Robert J. Marzano cho rằng chiến lược lớp học rõ ràng dựa trên khoa học và nghiên cứu.
Nhưng vấn đề là sử dụng tri thức khoa học và kết quả nghiên cứu đó như thế nào. Marzano trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy cân bằng dựa vào nghiên cứu trên dữ liệu với việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học. Các nhà giáo dục phải kiểm tra tất cả các thành phần của quá trình giảng dạy để giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể đạt được phản ứng tổng hợp năng động, là kết quả của nghệ thuật và khoa học trong giảng dạy để mang lại thành tích học tập tốt hơn cho người học [90]. The Art and Science of Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction (Nghệ thuật và Khoa học giảng dạy: Một khuôn khổ toàn diện cho Hướng dẫn hiệu quả) của Robert J.
Marzano trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy dựa trên việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học. Những kinh nghiệm và sự hiểu biết chuyên môn chắc chắn sẽ giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể tổng hợp được năng lực, sáng tạo để tạo ra thành tích đặc biệt trong giảng dạy và đào tạo được các học viên xuất sắc. 10 Một trong những nghiên cứu quan trọng liên quan đến việc xác lập các yêu cầu đối với GV là cuốn sách Motivating & Inspiring Teachers: The Educational Leader's Guide for Building Staff Morale (Người giảng viên biết tạo động lực và gây cảm hứng: Hướng dẫn Nhà lãnh đạo giáo dục xây dựng tinh thần nhân viên) của các tác giả Todd Whitaker, Beth Whitaker, Dale Lumpa [93]. Đối với hiệu trưởng, giảng viên, lãnh đạo nhóm nghiên cứu, và tất cả các nhà giáo dục khác, cuốn sách này là các chiến lược để thúc đẩy và kích thích tất cả những người tham gia trong lĩnh vực giáo dục.
Cuốn sách cung cấp các chiến lược để ĐNGV tạo động lực và duy trì sự năng động cho các học viên. Các gợi ý này có thể giúp các nhà giáo dục tiếp cận công việc mỗi ngày trong một trạng thái nhiệt tình, tập trung, và tích cực. Thời gian gần đây những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV; đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết; các hình thức bồi dưỡng GV cũng trở nên đa dạng và phong phú; quan tâm cách thức bồi dưỡng theo mô đun; kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ chức danh giữa tỷ lệ giáo sư với trợ giảng và trợ lý.
Nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực dựa vào năng lực 1. Nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực Khái quát, các giai đoạn phát triển của quản lý NNL bao gồm: từ “Phúc lợi của nhân viên” trong những năm 1900, “Hành chính nhân sự” năm 1920- 1930, “Quản lý nhân sự” năm 1940-1960, “Quản lý NNL/nhân sự” năm 1970- 1980, đến “Quản lý NNL” trong những năm 1990 và từ năm 2000 đến nay là xu thế “Quản lý NNL chiến lược” 11 Quản lý nguồn nhân lực cũng giống như quản lý các lĩnh vực hoạt động khác đều phải tuân theo những nguyên lý chung và phải thực hiện các chức năng chung của quản lý như: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành phối hợp và kiểm tra, kiểm soát. Việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản của quản lý nói chung, đi sâu nghiên cứu các chức năng của quản lý nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau cả trong và ngoài nước, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của Harold Koontz, Cyril Donnell và Heinz Weihrich [46]; “Những nguyên tắc trong quản lý” (The principles of scientific management) của F.Taylor [92]; “Lý luận đại cương về quản lý” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc [15]; “Quản lý giáo dục” của Bùi Minh Hiền [47]… Điểm khác biệt giữa quản lý nói chung và quản lý NNL nói riêng chính là đối tượng của quản lý – đó là yếu tố con người. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Quản lý phát triển nguồn nhân lực” (Managing human resource development) của Leonard Nadller và Galand D.
Ngoài việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quản lý nguồn nhân lực nói chung, các công trình nêu trên đã tập trung nghiên cứu sâu về yếu tố con người, khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của yếu tố con người và nhấn mạnh tiềm năng con người như là nội lực cơ bản nhất trong sự nghiệp CNH, 12 HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tiềm năng của con người là vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Muốn phát huy tiềm năng đó, phải chuyển nguồn nhân lực sang thành“vốn nhân lực”, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người. Phát triển người, phát triển toàn diện con người là tư tưởng lớn của nhân loại, của thời đại và của Đảng ta, Nhà nước ta.
Trong Đánh giá sự nghiệp công cộng, tác giả Ngô Cương (Nxb Thượng Hải, năm 2003) đề cập những vấn đề về quản lý trường đại học, trong đó có quản lý, đánh giá ĐNGV [28]. Hội nghị Thế giới về giáo dục đại học thế kỷ 21 (Paris, 10/1998) do UNESCO tổ chức đã khẳng định một chính sách mạnh mẽ về phát triển ĐNGV và coi đó là yếu tố quan trọng đối với các trường đại học. Hội nghị khuyến nghị các quốc gia xây dựng các chính sách rõ ràng đối với giáo chức đại học, sao cho có thể cập nhật và nâng cao kỹ năng của họ, khuyến khích cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học với tình trạng tài chính và nghiệp vụ thích hợp để đạt chất lượng cao trong nghiên cứu và giảng dạy. Khi đề cập đến "Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam", các tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan đã bàn về 5 nội dung chính: (1) Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học của các quốc gia trên thế giới; (2) Khái quát về thực tiễn phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc để nhận diện các yếu tố truyền thống của nó; (3) Phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực giáo dục đại học nước ta hiện nay để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến mặt yếu kém; (4) Nhận định về cơ hội, thách thức đối với giáo dục đại học nước ta trong vài thập niên đầu thế kỷ XXI và xác định các mục 13 tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ chiến lược cho sự phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học nước ta; (5) Đề xuất các giải pháp chính nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ trên [27].