Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong điều kiện hội nhập quốc tế Chương 3: Thực trạng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Tổng quan nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 1. Nghiên cứu về cơ chế tỷ giá hối đoái 1. Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái Cơ chế tỷ giá hối đoái được hiểu là khuôn khổ chung để điều chỉnh và quản lý tỷ giá hối đoái.
Thông qua cơ chế TGHĐ có thể thấy được cách thức chung điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Trung ương. Việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp cho mỗi thời kỳ là rất cần thiết. Có hai quan điểm khác nhau về lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái: Thứ nhất cho rằng, lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái (TGHĐ) và kết quả hoạt động của nền kinh tế không có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Đó là các nghiên cứu của Flood và Rose (1995) và Gosh et al (1997), kết luận của họ cho thấy việc lựa chọn cơ chế tỷ giá ảnh hưởng tương đối nhỏ đến hoạt động của nền kinh tế [142], [146].
Thứ hai cho rằng, lựa chọn cơ chế TGHĐ thực sự là vấn đề đối với hoạt động kinh tế [163]. Nghiên cứu mối liên hệ giữa TGHĐ và phát triển kinh tế của các nước trong giai đoạn hậu Bretton Woods, sử dụng cách phân loại theo thực tế (de facto) dựa trên những thay đổi thực tế của các biến số kinh tế vĩ mô, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, đối với các quốc gia đang phát triển, tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn đi đôi với phát triển thấp hơn. Đối với các quốc gia công nghiệp hóa, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển. Ilker và Maria (2000), sử dụng dữ liệu các nước đã và đang phát triển trong 2 thập kỷ, cho rằng ở các nước đang phát triển áp dụng TGHĐ cố định sẽ làm giảm nguy cơ khủng hoảng ngân hàng [150].
Tuy nhiên, một khi khủng hoảng xảy ra thì các quốc gia có TGHĐ cố định chịu tổn thất lớn hơn các quốc gia có TGHĐ linh hoạt. Những phát hiện gần đây cho thấy một quốc gia càng hội nhập sâu rộng vào thị trường vốn quốc tế và có hệ thống tài chính lành mạnh, càng nên lựa chọn cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn. Trong bài viết ―A theory of optimum currency areas – Lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu”, Mundell (1961) đã đưa ra lý thuyết để xác định một cơ chế TGHĐ xét trên khả năng duy trì cân bằng kinh tế đối nội, cân bằng kinh tế đối ngoại và đã chỉ ra rằng: i) Đối với các nền kinh tế quy mô nhỏ, mở cửa thì cơ chế tỷ giá cố định sẽ phù hợp hơn; ii) Một nước càng ít đa dạng hoá trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu và ngoại thương, càng tập trung về địa lý thì cơ chế tỷ giá cố định càng phù hợp; iii) những nước có cơ 8 cấu xuất khẩu kém đa dạng thì các nguồn thu ngoại hối thường có nhiều biến động, do tập trung vào một số mặt hàng nhất định và do đó thường có xu hướng neo TGHĐ nhằm tránh những tác động xấu khi diễn ra tình trạng TGHĐ biến động mạnh [171]. Trong nghiên cứu ―No single currency regime is right for all countries or at all times - Không có chế độ tiền tệ nào là phù hợp với tất cả các quốc gia hoặc mọi lúc”, Frankel, Jeffrey, (1999), khi nghiên cứu cơ chế TGHĐ của các nước trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 1990 đã đi đến nhận định rằng, trên thực tế không tồn tại một cơ chế TGHĐ phù hợp với mọi quốc gia, và cũng không có một cơ chế TGHĐ nào phù hợp với một quốc gia mãi mãi.
Nghiên cứu này đã giúp các quốc gia nhìn nhận rằng, không nên theo đuổi một cơ chế TGHĐ có thể được cho là tối ưu của một quốc gia nào đó, mà cần phải xem xét điều kiện kinh tế cụ thể của đất nước mình và lựa chọn thời điểm để áp dụng một cơ chế TGHĐ nhất định. Frankel cũng khẳng định, việc mỗi quốc gia thay đổi cơ chế TGHĐ sao cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế là tất yếu. Điều quan trọng nhất khi trả lời câu hỏi của một số quốc gia là nên áp dụng cơ chế TGHĐ cố định hay thả nổi là phải xem xét quy mô và mức độ mở cửa nền kinh tế của quốc gia đó [140]. IMF (2007) trong ―Chuyển sang tỷ giá linh hoạt hơn: như thế nào, khi nào và nhanh như thế nào - Moving to a greater e flexibility: How, When, and How fast” đã đưa ra bốn điều kiện để chuyển đổi thành công sang cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn [153]: Thứ nhất, thị trường ngoại hối (TTNH) phát triển và có tính thanh khoản cao, có nghĩa là chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán ở mức nhỏ, phí giao dịch thấp, doanh số giao dịch lớn, hệ thống giao dịch phải thuận tiện và các đối tượng tham gia thị trường phải rộng; thứ hai, can thiệp của NHTW được thực hiện có chọn lựa hoặc không định trước, theo đó NHTW phải xác định mục tiêu, thời gian và khối lượng can thiệp; thứ ba, lựa chọn neo danh nghĩa thích hợp thay thế neo cố định TGHĐ; thứ tư, hệ thống giám sát và quản lý rủi ro tỷ giá của cả khu vực công và khu vực tư nhân.
Nghiên cứu của IMF giúp các quốc gia có cơ sở lý luận để tiến hành khảo sát thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp để đáp ứng những điều kiện cần thiết nêu trên trong quá trình linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ. Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước, đặc biệt là của IMF về cơ chế TGHĐ đã cung cấp các luận chứng khoa học về các cơ chế TGHĐ khác nhau, cách lựa chọn cơ chế TGHĐ phù hợp với điều kiện của từng nước, cũng như đưa ra các khuyến nghị cần thiết khi chuyển đổi sang cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các luận điểm chung áp dụng cho tất cả các nước trên 9 thế giới mà chưa có nghiên cứu riêng cho Việt Nam. Các nghiên cứu trong nước về lựa chọn cơ chế TGHĐ Trong nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” của Nguyễn Thị Thu Hằng và các cộng sự (2010) đã khẳng định: cơ chế tỷ giá của Việt Nam hiện nay là cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh ngày càng bộc lộ ra những hạn chế.
Cùng với việc so sánh tỷ giá chính thức và tỷ giá trị trường tự do năm 2009, tỷ giá thực tế và tỷ giá danh nghĩa giai đoạn 2000-2009, các tác giả cũng đã tính toán tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam và đi đến kết luận đáng chú ý là đồng VND lên giá nhiều so với các đồng tiền của các nước đối tác, đây là nguyên nhân của sự sụt giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và dẫn đến sự gia tăng nhập siêu của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất: i) Việt Nam nên chuyển sang cơ chế TGHĐ thả nổi có quản lý; ii) Khi từ bỏ cơ chế neo tỷ giá, NHNN phải trở nên độc lập hơn; và iii) cần hiện đại hóa thị trường ngoại hối ở Việt Nam [28]. Trong nghiên cứu “Áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu: lý luận và thực tiễn” của Tô Thị Ánh Dương (2015), cũng như trong nghiên cứu “Các biện pháp vô hiệu hoá trong ràng buộc bộ ba bất khả thi tại Việt Nam - đánh giá và những khuyến nghị chính sách” của Tô Trung Thành (2012), các tác giả đều có nhận định rằng, để tiến tới thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu (LPMT) thì phải lựa chọn cơ chế TGHĐ linh hoạt cho nền kinh tế Việt Nam [22], [84]. Tóm lại, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc lựa chọn cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp với Việt Nam, nhưng đây vẫn luôn được coi là vấn đề mới trong bối cảnh trong nước và thế giới đầy biến động.
Lựa chọn cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp cho Việt Nam nhằm đáp ứng mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng là rất cần thiết. Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái và lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” Đối với mỗi quốc gia việc lựa chọn chính sách kinh tế vĩ mô luôn đối diện với ―Bộ ba bất khả thi‖, đó là không thể đồng thời đạt được ba mục tiêu (là ba đỉnh của tam giác ―Bộ ba bất khả thi‖): Ổn định tỷ giá, chính sách tiền tệ độc lập và tự do hóa tài khoản vốn. Lý thuyết ―Bộ ba bất khả thi‖ là một lý thuyết cơ bản của kinh tế vĩ mô được sử dụng khá phổ biến, dựa trên mô hình Mundell-Fleming được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển từ những năm 1960. Từ năm 1980, khi mà nhiều nước bắt đầu chú trọng mở cửa tài khoản vốn, thì những mâu thuẫn giữa việc giữ ổn định tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ độc lập tất yếu xuất hiện.
10 Mô hình Mundell-Fleming cho thấy: nếu một quốc gia theo đuổi mục tiêu kiểm soát tài khoản vốn (đỉnh của tam giác) thì phải lựa chọn chính sách tiền tệ (CSTT) độc lập và cố định TGHĐ; nếu chọn cơ chế TGHĐ thả nổi (góc bên trái tam giác) thì sẽ tự chủ về CSTT và tự do hóa tài khoản vốn; còn nếu lựa chọn cơ chế TGHĐ cố định (góc bên phải tam giác) để tự do hóa tài khoản vốn thì CSTT sẽ bị phụ thuộc (hình 1. Kiểm soát tài khoản vốn Chính sách tiền tệ Tỷ giá hối đoái độc lập ổn định Tỷ giá hối đoái Chính sách tiền tệ thả nổi phụ thuộc Tự do hóa tài khoản vốn Hình 1. Tam giác “Bộ ba bất khả thi” Nguồn: Frankel (1999) [133].