CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHTM VÀ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1.1 NHTM trong nền kinh tế thị trường 1.1 Khái niệm về NHTM - Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 qui định “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan “. - Luật pháp Mỹ quy định “ bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu ( bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử ) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng “. - Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp cũng chỉ rõ : NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Các khái niệm trên dù có cách diễn giải khá khác nhau song đều phản ảnh NHTM có những đặc trưng sau: - NHTM là tổ chức tín dụng.
- Hoạt động của NHTM bao gồm cung cấp các Dịch vụ ngầm (đi vay để cho vay ) và Dịch vụ thẳng ( các dịch vụ trực tiếp của NHTM ) Tóm lại, từ những cách định nghĩa trên về ngân hàng, có thể rút ra NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết 12 khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.2 Bản chất, chức năng của NHTM 1.1 Bản chất của NHTM - NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp, bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. - Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh, lấy mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận. - Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.2 Chức năng của NHTM Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển, NHTM thực hiện 3 chức năng sau đây : Trung gian tín dụng : NHTM đóng vai trò là người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế,.) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. Trung gian thanh toán : NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán.để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau.
Cung ứng dịch vụ ngân hàng : Dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ thuần túy để hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho nhà ngân hàng mà dịch vụ ngân hàng cũng có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM mà trước hết là hoạt động tín dụng. 13 Các dịch vụ ngân hàng mà một NHTM cung cấp cho khách hàng bao gồm : - Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền quốc nội. - Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế. - Dịch vụ ủy thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ, mua bán hộ,.
- Dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin. Trên đây là các chức năng của một NHTM, các chức năng nhiệm vụ ấy có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.3 Các sản phẩm của ngân hàng thương mại 1. Các sản phẩm huy động vốn ÍTiền gửi không kỳ hạn : Bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác. ÍTiền gửi có kỳ hạn : Gồm tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
Các sản phẩm sử dụng vốn a. Cho vay Đây là sản phẩm trong đó NHTM thỏa thuận với khách hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định, trong một khoản thời gian nhất định và phải hoàn trả cả gốc và lãi. Các hình thức cho vay gồm : ÍCho vay trực tiếp Theo loại hình này, người xin vay tiến hành các thủ tục vay vốn, ngân hàng sau khi thẩm định kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng, nếu nhu cầu vay vốn chính đáng, có khả năng trả nợ, có tài sản bảo đảm (nếu không được vay bằng tín chấp) thì ngân hàng sẽ tiến hành cho vay. Nghiệp vụ này được gọi là cho vay trực tiếp vì người đi vay và người trả nợ là một chủ thể.
ÍCho vay gián tiếp 14 Cho vay gián tiếp được thực hiện dưới các loại hình sau: + Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Việc ngân hàng mua lại các thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán gọi là chiết khấu (Discount). + Bao thanh toán (factoring):NHTM thông qua công ty con của mình sẽ đứng ra mua nợ trên cơ sở hóa đơn, chứng từ của người bán hàng (giá mua bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị thực của hóa đơn. Khi đến hạn người mua (con nợ) phải thanh toán toàn bộ số tiền cho ngân hàng (người mua nợ và là chủ nợ mới). ÍCho thuê tài chính (Financial leasing): Các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế có nhu cầu sử dụng tài sản thiết bị để sản xuất kinh doanh và có phương án sử dụng tài sản thiết bị có hiệu quả thì ngân hàng thông qua công ty con tài trợ bằng cách mua các tài sản thiết bị theo danh mục, số lượng mà người đi thuê yêu cầu, sau đó sẽ cho người đi thuê thuê sử dụng trong một thời gian nhất định (thường thời hạn cho thuê chiếm khoảng 2/3 thời gian khấu hao của tài sản thiết bị đó) với điều kiện là người đi thuê phải sử dụng tài sản thiết bị và thanh toán tiền thuê đầy đủ đúng hạn theo các điều khoản của hợp đồng cho thuê tài chính.
Khi hết hạn người đi thuê được quyền lựa chọn phương án mua, kéo dài thời hạn thuê hoặc trả lại tài sản thiết bị thuê. Đây là loại hình tín dụng có nhiều ưu điểm, phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. ÍBảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee): Nhờ chứng thư bảo lãnh của ngân hàng mà người được bảo lãnh có thể ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, hợp đồng tài chính một cách thuận lợi. Đầu tư Đầu tư của ngân hàng có thể được phân thành 2 nhóm lớn : Đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính.
ÍĐầu tư trực tiếp: 15 Là hình thức ngân hàng bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và sử dụng phần vốn của mình để tạo lợi nhuận, các hình thức đầu tư này gồm : - Hùn vốn liên doanh trong và ngoài nước. - Mua cổ phần của các công ty, đơn vị kinh tế. - Mua cổ phần của các ngân hàng cổ phần. - Cấp vốn thành lập các công ty con (công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm.) ÍĐầu tư tài chính: Đầu tư tài chính được thực hiện bằng cách : - Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu ngân hàng trung ương.
- Đầu tư vào trái phiếu công ty. Các sản phẩm dịch vụ khác - Dịch vụ ngân quỹ : Kiểm đếm, phân loại , bảo quản thu phát tiền mặt. - Dịch vụ chuyển tiền : Ngân hàng nhận chuyển tiền từ địa phương này sang địa phương khác ở trong nước hay từ nước này sang nước khác theo yêu cầu của người chuyển tiền. - Dịch vụ thanh toán : Gồm + Dịch vụ thanh toán quốc nội (thanh toán bằng séc, nhờ thu, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng.) + Dịch vụ thanh toán quốc tế (tín dụng thư, nhờ thu, chuyển tiền, thẻ tín dụng quốc tế.
- Dịch vụ thu hộ : Thu hộ lợi tức cổ phần (cổ tức), thu hộ tiền hàng, thu hộ lợi tức trái phiếu. - Dịch vụ ủy thác : 16 Bảo quản tài sản cho các cá nhân, các chứng thư quan trọng (vàng, bạc, đá quý,.kỷ vật), bảo quản và lưu giữ chứng khoán cho khách hàng, bảo quản hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. - Dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư phát triển, thẩm định dự án, cung cấp thông tin,. - Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế,.
- Dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, thu đổi ngoại tệ phi mậu dịch,.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh Rất nhiều học thuyết đã được xây dựng để phân tích về năng lực cạnh tranh của các quốc gia cũng như của các doanh nghiệp, nổi bật nhất trong các học thuyết về năng lực cạnh tranh gần đây là học thuyết của Michael Porter. Ở cấp độ vi mô, trong tác phẩm của mình, theo Michael Porter “ Để cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất thấp hơn hay có sự khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn mức bình quân. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải có được những lợi thế cạnh tranh ngày càng tinh vi hơn thông qua việc cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao hơn hay sản xuất với năng suất hiệu quả hơn”. Như vậy, theo Michael Porter, cốt lõi của vấn đề cạnh tranh là xác định, xây dựng và phát triển lợi thế cạnh tranh.
Trong đó chủ yếu là: - Lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất. - Lợi thế cạnh tranh về đa dạng hóa sản phẩm. - Lợi thế cạnh tranh về chất lượng của dịch vụ cung cấp.