CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục và Đào tạo có tầm rất quan trọng đối với sự phát triển của các ngành có liên quan và của đất nước nói chung; đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo là tiền đề, là nền móng cơ bản cho sự phát triển đất nước. Nhận định được điều này, trong các giai đoạn phát triển của Giáo dục và Đào tạo gắn liền với lịch sử đất nước, các nhà quản lý đã ban hành và thực thi nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: "Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển GDĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững"[16]; và khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong", "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"[27, tr.
Nghị quyết số 42-NQ/TƯ ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch, phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ: “Tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán bộ; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ, quản lý, đảm bảo tính kế thừa, phát triển và sự chuyển biến liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và ổn định chính trị. Chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng 9 yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, về giáo dục và đào tạo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”[19] Trên những cơ sở đó và cùng quan điểm nhận định vai trò của Giáo dục và Đào tạo, nhiều nhà khoa học tâm huyết đã có những công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đã góp phần rất lớn cho sự phát triển giáo dục đương thời và có giá trị to lớn trong thời kỳ hiện nay; trong đó, có thể thấy rằng, vấn đề đầu tư nghiên cứu để xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục luôn là vấn đề được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm hàng đầu; luôn chú trọng đến việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng được đội ngũ CBQL có đủ khả năng để xây dựng một nền giáo dục đáp ứng tốt trong từng thời kỳ lịch sử và yêu cầu phát triển của xã hội.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về khoa học quản lý và QLGD, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu nước ngoài như: Afanaxep.(1979), Con người trong quản lý xã hội, bản tiếng Việt (tập2), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Konđacop M.I (1984), Cơ sở lí luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường Cán bộ QLGD, Hà Nội; Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng: “Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”, cùng với nhiều tác giả khác, Ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra. 10 Đối với trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu rất có giá trị như: Đại cương khoa học quản lý của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (NXB ĐHQGHN, 2010); Quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (ĐHQGHN, 2015); Tâm lý học quản lý của tác giả Vũ Dũng và Phùng Đình Mẫn (NXB Giáo dục Hà Nội, 2007; Đại cương về khoa học quản lý của tác giả Vũ Văn Dân và Võ Nguyên Du (NXB ĐHSP, 2011);… Ngoài ra, trong thời gian gần đây, một số Học viện, các trường Đại học cũng tổ chức nhiều cuộc Hội thảo khoa học bàn về chuyên đề QLGD, chẳng hạn: - Hội thảo khoa học "Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục Việt Nam - nhìn từ góc độ quản lý" do Học viện QLGD tổ chức vào tháng 10/2011 tại Hà Nội, Hội thảo bàn về vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, trong đó chú trọng các vấn đề về đội ngũ CBQL; - Hội thảo "Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh đổi mới giáo dục" do Khoa Quản lý giáo dục - Trường ĐHSP Hà Nội tổ chức vào tháng 4/2015 nhân kỷ niệm 10 năm thành lập; Hội thảo nhằm mục đích trao đổi về học thuật, hợp tác nghiên cứu và đào tạo, giúp định hướng, lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người học và gắn bó mật thiết với nhu cầu phát triển giáo dục hiện nay; đặc biệt, trong bối cảnh ngành giáo dục đang dốc sức cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT, công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL càng phải được đặt lên hàng đầu. Đối với giáo dục tiểu học cũng có nhiều bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, nhiều Luận án, Luận văn nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL; tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa phát hiện công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Do đó, vấn đề nghiên cứu để tìm ra các 11 biện pháp khả thi, hữu hiệu cho công tác quản lý phù hợp với đặc thù của huyện để xây dựng giáo dục tiểu học phát triển là vấn đề mang tính cấp thiết.
Việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng, đáp ứng yêu cầuphát triển giáo dục của địa phương trong điều kiện mới, đóng góp cho công cuộc xây dựng và phát triển KT-XH của huyện. Một số khái niệm cơ bản liên quan vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý * Khái niệm Tùy theo nhận thức và góc nhìn khác nhau mà khái niệm “quản lý” cũng được hiểu khác nhau.
Theo Các Mác: "Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó" [12, tr.W Taylor (1856-1915) cho rằng: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn chỉnh công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[15, tr.Follet: "Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại. Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong quá trình giải quyết nó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh”[13, tr. Ngoài ra, một số quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý, như: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Giáo dục, xuất bản năm 1994: "Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu 12 nhất định. Là tổ chức điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định"[30, tr.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức. Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức”[24, tr. Quan điểm của Vũ Văn Dân và Võ Nguyên Du: “Quản lý là tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong một tổ chức (hay một hệ thống xã hội) với những phương pháp vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, nhằm đạt mục tiêu chung cũng như mục tiêu riêng của các đối tượng trong tổ chức”[14, tr. “Quá trình quản lý diễn ra trong mọi tình huống khi con người ta tụ tập lại cùng nhau hoạt động vì mục đích chung, để đạt được kết quả đã cùng nhau thỏa thuận”[24, tr.13] Cũng theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, có thể có những cách hiểu về quản lý khác nhau trong những tổ chức khác nhau, nhưng điều đó chỉ phản ánh sự khác biệt giữa các tổ chức về khía cạnh quy mô, công nghệ, đội ngũ và kết quả hoạt động mà thôi.
Dưới nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau đối với khái niệm “quản lý” như đã nêu một vài ý kiến trên, nhìn chung hầu hết những cách diễn đạt đó đều có chung quan điểm mà có thể khái quát: Quản lý là hệ thống những tác động liên tục, có chủ định, có tổ chức, phù hợp quy luật khách quan của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) đến khách thể (đối tượng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Ngoài ra, trong hệ thống này còn có sự tương tác, ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài. 13 * Bản chất của hoạt động quản lý Hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý; hoạt động quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và khách thể quản lý.