Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non. Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG MẦM NON VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Là “nguồn nhân lực của nguồn nhân lực”, vấn đề nhà giáo và CBQL luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục. Đội ngũ CBQL giáo dục có vai trò quan trọng trong sự thành bại của sự nghiệp GD&ĐT. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn quan tâm đến việc nghiên cứu phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về QLGD và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục của các tác giả như: "Những vấn đề về quản lý trường học" (P.I Kônđakốp), “Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện” (M.
Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng: "Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học". Cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa HT và PHT để đạt được mục tiêu đề ra. Tác phẩm “Quản trị trường học hiệu quả” của ba tác giả K. Everad, Geofrey Morris và Ian Wilson (NXB Giáo dục, năm 2009) với nội dung mang tính thực tiễn cao trên cơ sở lý luận về quản lý hiện đại mà chính các tác giả là người trực tiếp thực hành viết ra.
Ở Việt Nam, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước cho đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về QLGD có giá trị, trong đó các tác giả đề cập tới những vấn đề liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục như: “Một số khái niệm về quản lý giáo dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo (Trường CBQL-ĐTTW 1, Hà Nội 1997); "Khoa học tổ chức và quản lý, một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà Nội 1999); “Khoa học quản lý giáo LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com dục” của tác giả Trần Kiểm (NXB Giáo dục 2004); "Đại cương về khoa học quản lý" của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2010); “Quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2012). Đối với cấp độ luận văn thạc sỹ, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về công tác xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục, chủ yếu là ở các cấp học như tiểu học, THCS, THPT. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu việc phát triển đội ngũ CBQL trường MN chưa nhiều. Có thể kể đến một số đề tài như: “Giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng các trường mầm non quận Ba Đình Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Như Tâm, năm 2005 ; “Biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Thị Thanh Thủy, năm 2010; “Phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Thị Thúy, năm 2014.
Các tác giả theo nhóm đề tài này đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường MN nhưng chủ yếu thuộc các khu vực thuận lợi. Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung với tư cách là nguồn nhân lực trong giáo dục là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên, các đề tài nói trên đều mang tính đặc thù, đi sâu nghiên cứu, áp dụng vào thực tế ở từng vùng, miền, từng địa phương và từng đơn vị, không thể áp dụng cho tất cả các địa phương, đơn vị nói chung, đặc biệt là những địa phương thuộc vùng KT-XH đặc biệt khó khăn mà huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên là một ví dụ.
Cho đến nay, vẫn chưa có tác giả nào đề cập đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN vùng đặc biệt khó khăn một cách đầy đủ và có hệ thống. LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com Đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay” có kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên. Vấn đề mà luận văn chú trọng là giải pháp phát triển đội ngũ CBQL ở các trường MN vùng đặc biệt khó khăn (chiếm tỉ lệ không nhỏ trong tổng số các trường MN cả nước nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng) nhằm nâng cao chất lượng GDMN, nền tảng cho sự phát triển ở các cấp học tiếp theo, góp phần vào sự đổi mới của giáo dục trong bối cảnh hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học 1. Quản lý * Khái niệm quản lý: Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó. Hoạt động QL là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Chính vì thế QL được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin đưa ra một số khái niệm tiêu biểu sau: Theo W. Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [20, tr. Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [7, tr.
Theo Trần Kiểm: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [22, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Các tác giả còn phân định rõ về hoạt động QL: Là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [8, tr. Theo Đặng Quốc Bảo thì: Quản lý = “Quản” + “Lý”, trong đó “Quản” có nghĩa là giữ, duy trì ổn định, “Lý” có nghĩa là chỉnh sửa, sắp xếp để phát triển.
Quản lý là quá trình tạo ra, duy trì sự ổn định và phát triển của tổ chức [2, tr. Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về QL nhưng đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của QL như: QL là một hoạt động, trong đó có tác động của chủ thể QL đến khách thể bị QL và luôn luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. QL tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm chủ thể QL, khách thể QL, cơ chế QL và mục tiêu chung. Với những phân tích trên, có thể hiểu quản lý theo nghĩa chung nhất như sau: Quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý theo cơ chế quản lý nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra và đảm bảo cho tổ chức ổn định, phát triển lâu dài.
* Các chức năng quản lý: Theo H. Fayol, quản lý có 5 chức năng là: Kế hoạch (Planning); Tổ chức (Organizing); Chỉ huy (Directing); Phối hợp (Co-Ordinating); Kiểm tra (Controlling). Ngày nay, có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác nhau về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng) song về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới mục tiêu. Theo quan điểm quản lý hiện đại khẳng định QL có bốn chức năng cơ bản sau đây: LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hoá: Là chức năng đầu tiên và quan trọng, quyết định sự thành bại của quản lý, nó có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý.
Kế hoạch hoá là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó [8, tr. Tổ chức: Là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý, nó có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu của tổ chức. Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức [8, tr. Chỉ đạo: Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hóa các mục tiêu.
Lãnh đạo - chỉ đạo là liên kết, tác động đến người khác và tạo động lực động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức [8, tr.