CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Đội ngũ CBQL giáo dục có vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn quan tâm đến việc nghiên cứu phát triển đội ngũ CBQL, đặc biệt là đội ngũ CBQL giáo dục. Để phát triển nguồn nhân lực, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Cộng hòa Séc được coi là một bộ phận cấu thành của Chương trình Thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực. Trong các chiến lược, đáng chú ý có chiến lược cải thiện nhân lực hành chính công, chiến lược phát triển giáo dục đại học - cao đẳng và liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược phát triển học suốt đời. Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm.
Hàn Quốc chú trọng tới việc nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức. Chính phủ Trung Quốc đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức. Ngay sau khi nuớc nhà giành độc lập, Hồ Chủ tịch đã đặc biệt quan tâm, chỉ đạo phát triển đội ngũ CBQL giáo dục để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm tư tuởng của Chủ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tịch Hồ Chí Minh về giáo dục là định hướng đúng đắn cho việc đào tạo, bồi duỡng, huấn luyện đội ngũ giáo viên mới và CBQL giáo dục.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, kể cả xu huớng kế thừa và phát triển, các nhà nghiên cứu như Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý, Trần Kiều, Phạm Viết Vượng. Trong các công trình nghiên cứu của mình đã bàn về công tác quản lý giáo dục và những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Đáng chú ý là các tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lý” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc; “Những luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH- HĐH” của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm. Xét về góc độ nghiên cứu QLGD, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học tiếp cận QLGD và quản lý trường học để đề cập đến việc phát triển, xây dựng công tác QL nhà trường, tiêu biểu có: “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của Phạm Minh Hà; “Khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Kiểm; “Quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư.
Trên thực tế có nhiều công trình khoa học nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường học của nhiều tác giả. Về lĩnh vực GDMN, đã có nhiều bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí khoa học có uy tín trong lĩnh vực Khoa học Giáo dục và Khoa học Quản lý giáo dục. Một số luận văn Thạc sĩ QLGD cũng đã nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục như đề tài: “Giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng các trường mầm non quận Ba Đình Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Như Tâm, năm 2005; “Các giải pháp quản lý của Phòng Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Văn Toàn, năm 2006; “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường MN tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Thị Thanh Thủy, 2010 các tác giả theo nhóm đề tài này đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở của huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan, năm 2008; đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Ý Yên tỉnh Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học” của Phạm Mạnh Tuân, năm 2008; đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Hải Bằng, năm 2010… Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung với tư cách là nguồn nhân lực trong giáo dục là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên, các đề tài nói trên đều mang tính đặc thù, đi sâu nghiên cứu, áp dụng vào thực tế ở từng vùng, miền, từng địa phương và từng đơn vị, không thể áp dụng cho tất cả các địa phương, đơn vị nói chung. Riêng ở tỉnh Điện Biên, cho đến nay, vẫn chưa có tác giả nào đề cập đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non một cách đầy đủ và có hệ thống. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học 1. Quản lý Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Về nội dung, thuật ngữ quản lý đuợc hiểu bằng nhiều cách khác nhau và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau. Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những nguời cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt các mục đích của nhóm. Một số nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm và định nghĩa về quản lý như: - Theo Omarốp: Quản lý là tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Aunapu (Nhật Bản): Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội xác định.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và dễ nhất” [18, tr.
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [26, tr. - Theo Trần Kiểm: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [22, tr. - Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho các tổ chức vận hành và đạt được các mục đích của tổ chức” [10, tr. Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song nội hàm của các định nghĩa đều đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau: - Quản lý là một hoạt động, trong đó có tác động của chủ thể quản lý đến khách thể bị quản lý và luôn luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
- Sự tác động có định hướng tới mục tiêu của tổ chức được chủ thể quản lý thực hiện phải có ý thức, hợp quy luật, nghĩa là trên cơ sở phải có triết lý và phù hợp với thực tiễn. Với những phân tích trên, tác giả nhận thấy:“Quản lý một tổ chức là tác động có chủ đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục đích của tổ chức”. Các tác giả Nguyễn quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cũng khẳng định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn “quản lý là quá trình 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạt đến mục tiêu của tổ chức bẳng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra” [10, tr.9] Chức năng quản lý Tác giả H. Fayol lần đầu tiên đã đề xuất hoạt động quản lý có chức năng quản lý: kế hoạch, tổ chức, điều hành, phối hợp và kiểm tra.
Ngày nay, có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác nhau về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng) song về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới mục tiêu. Theo quan điểm quản lý hiện đại đã khẳng định có 4 chức năng cơ bản sau đây: + Kế hoạch hoá: là chức năng đầu tiên của một quy trình quản lý, nó có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý.