Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay. Chương 2: Thực trạng hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay. Chương 3: Đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TT GDTX cấp huyện của tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay. Kết luận và khuyến nghị.
Cuối luận văn có phụ lục, tài liệu tham khảo. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN CỦA TỈNH PHÚ THỌ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong xu thế hội nhập, Việt Nam đã quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ, thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 185 quốc gia trên thế giới; Gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, WTO, APEC, CPTPP. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần nỗ lực vượt lên để xây dựng và phát triển trong các mối quan hệ bình đẳng với các quốc gia đó.
Mục tiêu đổi mới để phát triển, đổi mới giáo dục được coi là công cụ khi nó nhắm đích vào con người - chủ thể của mọi hoạt động. Quản lý giáo dục, đổi mới tư duy và cách thức quản lý để thực sự có được chất lượng giáo dục mới đã và đang là sự quan tâm trăn trở của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục bởi nó có ý nghĩa vô cùng to lớn, then chốt, quyết định sự thành bại của công cuộc cải cách giáo dục nước nhà. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, ở các cấp học, bậc học thể hiện nhận thức về tính cần thiết và tầm quan trọng đối với việc thay đổi chất lượng của ĐN CBQL. Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có tính lý luận đầu tiên phải kể đến đó là: Giáo trình khoa học quản lý của tác giả Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG HN 2001); Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trung tâm nghiên cứu Khoa học tổ chức - quản lý (NXB TK HN 1999); Khoa học quản lý nhà trường phổ thông của Trần Khải (NXB ĐHQG HN 2002); Giáo trình quản lý giáo dục của trường Cán bộ quản lý giáo dục (2003); Quản lý giáo dục của tác giả Bùi Minh Hiền (NXB ĐHSP 2006).
Ngoài ra còn một số bài trên các báo và tạp chí của các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác giả khác viết về quản lý và quản lý giáo dục cũng là những tài liệu có giá trị mang tính định hướng, đó là các bài viết: “Vấn đề giáo dục tiếp tục ở Anh’’, “Chiến lược công nghiệp hóa và đào tạo công nhân ở Singapo’’ đăng tại tạp chí nghiên cứu giáo dục, số chuyên đề về chống nạn thất học 1991; “Vai trò, vị trí của giáo dục từ xa trong Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời” (Tạp chí thông tin KHGD, số 40. Trong lĩnh vực GDTX, cũng đã có những bài viết, công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn với: “Bàn về Giáo dục thường xuyên”; Tác giả Nguyễn Hữu Châu với bài nghiên cứu “Giáo dục thường xuyên trong những thập niên đầu thế kỷ XXI - Những thách thức cần chia sẻ” (Tạp chí Khoa học - Giáo dục, số 21 tháng 6/2007); “Ngành học không chính quy - Cơ hội và thách thức”. Trao đổi của tác giả Lê Văn Vỵ cùng Vụ trưởng vụ GDTX Hoàng Minh Luật (Báo Giáo dục - Thời đại ngày 11/5/2007); Bài “Học tập suốt đời và yêu cầu đặt ra đối với nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học không chính quy” của tác giả Thái Xuân Đào, đăng trên Tạp chí Khoa học - Giáo dục, số 7 tháng 4/2006. Các bài viết đều khẳng định vai trò của hệ thống GDTX và việc phát triển hệ thống này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc tạo ra XHHT ở Việt Nam thế kỷ XXI.
Cũng qua đó nổi bật lên những thách thức, bất cập và yếu kém của hệ thống GDTX thời gian qua và yêu cầu cần đổi mới hoàn thiện để đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ hội nhập… Những công trình nghiên cứu này có giá trị to lớn khi nó mang tính lý luận và thực tiễn, là cơ sở cho một ngành học trong quá trình phát triển có nguồn gốc ban đầu là trường Bổ túc văn hoá, có thể hoàn thiện dần một cách vững chắc những điều kiện để rồi có được sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu sâu, tổng thể về thực trạng ĐN CBQL các TT GDTX và xây dựng ĐN CBQL cho hệ thống các TT GDTX thì chưa có nhiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vấn đề cán bộ là một vấn đề 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng yếu, rất cần kíp”, vì vậy “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Luận văn này cũng nhằm nhấn mạnh vai trò của đội ngũ lãnh đạo trong việc phát triển các TT GDTX.
Tác giả muốn từ thực trạng để đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng ĐN CBQL cho hệ thống các TT GDTX. Tuy nhiên do điều kiện khảo sát còn hạn chế, luận văn chỉ giới hạn trong nghiên cứu biện pháp phát triển ĐN CBQL là Ban Giám đốc các TT GDTX thuộc các huyện trên tỉnh Phú Thọ. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Phát triển Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật.
Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Như vậy, phát triển là sản phẩm của tư duy con người, nó gắn liền với ý thức và phản ánh năng lực của chủ thể sau quá trình nhận thức và hoạt động nhận thức. Nó là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của một cá nhân hay tổ chức. Biện pháp Biện pháp là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý.
Vì đối tượng quản lý phức tạp đòi hỏi những biện pháp quản lý rất đa dạng và linh hoạt. Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp, các biện pháp này sẽ giúp cho các nhà quản lý thực hiện tốt hơn các phương pháp quản lý của mình mang lại hiệu quả tối ưu của bộ máy Từ những định nghĩa trên, ta thấy biện pháp có những đặc điểm sau: Biện pháp xuất hiện khi có một vấn đề mới cần giải quyết; Hoặc là vấn đề cũ nhưng không đem đến kết quả mong muốn, cần được xem xét để có cách giải quyết khác nhằm đạt được hiệu quả tốt hơn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biện pháp là căn cứ vào các điều kiện để đưa ra và tiến hành những hoạt động, những cách thức, cách giải quyết một vấn đề đặt ra; Đối tượng thực hiện các biện pháp là chủ thể đề ra biện pháp với các thành viên liên quan trong vấn đề cần giải quyết. Biện pháp được triển khai là nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Quản lý Khi đời sống con người đạt tới mức văn minh nhất định thì một xã hội đã hình thành. Sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện và một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, hình thành để thực hiện những mục tiêu mà những nhóm người muốn thực hiện khi họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ. Tổ chức điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định, dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý. Xã hội càng phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành cũng càng được nâng cao.
Quản lý khi đó không chỉ là công việc mà còn được nhìn nhận dưới góc độ một khoa học về nghệ thuật quản lý. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” (Từ điển tiếng Việt, NXB Giáo dục xuất bản năm 1994). Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [23]. Tác giả Trần Kiểm thì nhấn mạnh: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.G cho rằng: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân”. Và theo Aunapu F.F: “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là con người trong hệ thống đó nhằm đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế - xã hội là cơ bản”. Phân loại và quan điểm về quản lý là vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp, tùy theo mục đích Nhưng chúng ta có thể nhận thấy nét chung nhất từ các khái niệm, đó là: Có nguồn gốc Hán Việt, “quản lý” bao gồm sự kết hợp hai nét nghĩa: (1) “Quản” bao hàm nghĩa coi sóc, giữ gìn, giữ ở thế ổn định; (2) “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp theo hướng “Phát triển”. Kết hợp nghĩa của 2 từ ta có cách hiểu sau: Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu.
Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Đây là điểm hội tụ cho những hoạt động cùng nhau của nhiều người. Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đối tượng. Yếu tố con người, trong đó người quản lý và người bị quản lý, giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý.