Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường Trung học cơ sở của huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường Trung học cơ sở của huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, biện pháp quản lý 1. Quản lý Từ buổi ban đầu sơ khai, con người đã biết qui tụ thành từng bầy, thành nhóm để tồn tại và phát triển.
Trong lao động họ đã biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao động cao hơn. Sự phân công và hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành. đó chính là chức năng quản lý. Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là sản phẩm và là yếu tố gắn chặt với lao động.
Từ những góc độ khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra các định nghĩa về quản lý khác nhau.Taylor (1856 - 1915) "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất" [19, tr. Khi con người lao động hợp tác thì điều quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức. Koontz (người Mỹ) "Quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác, nó bao gồm quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Trong tác phẩm Management (1995), Stoner và Freemance đã nêu “Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức đã đề ra”[18,tr. Thuật ngữ "quản lý" (từ Hán Việt) diễn tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình "quản" gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định ; quá trình "lý" gồm sửa sang sắp xếp, đưa hệ vào thế phát triển.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: “Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11, tr. Một cách hình ảnh C.Mác đã mô tả được bản chất của quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động, ông nói: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn giàn nhạc thì cần nhạc trưởng". Hình ảnh này cho ta thấy hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, đó là sự tất yếu không thể thiếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra.
Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu. Đó là ''bí quyết'' làm việc của người quản lý, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi phải đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức. Điều này cho ta thấy quản lý là một nghệ thuật. Các "bí quyết" của người quản lý được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế.
Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là khoa học-khoa học quản lý. Do đó ta có thể nói rằng: quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Hoạt động quản lý được mô tả qua sơ đồ sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mô hình về quản lý M Chủ thể Khách thể quản lý P quản lý N M: Mục tiêu; N: Nội dung; P: Phương pháp Trong sơ đồ 1. đã thể hiện các yếu tố của quản lý: “Ai quản lý ?” đó là chủ thể quản lý.
Chủ thể quản lý chỉ có thể là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên. Khách thể quản lý: là đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý có thể là người (quản lý ai?), vật (quản lý cái gì?), hay sự việc (quản lý sự việc nào?). Cũng có khi khách thể là tập thể nhiều người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý thực hiện được thông qua cơ chế quản lý. Cơ chế quản lý là phương thức nhờ nó mà hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Bằng những phương pháp riêng của mỗi người mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý những nội dung cần thiết để đối tượng quản lý thực hiện, vận hành đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Thực chất của các chức năng quản lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý.
Có 4 chức năng cơ bản của quản lý đó là: Kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá. Lập kế hoạch: Bao gồm xác định được mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được mục tiêu đó và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt động. Cụ thể là: Xác định sứ mệnh, chức năng nhiệm vụ; Dự báo, đánh giá triển vọng; Xác định mục tiêu (xa và gần); Tính toán các nguồn lực, các giải pháp. Tổ chức (công việc và các nguồn lực): là quá trình sắp xếp phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả.
Các nội dung của tổ chức gồm: Phân tích công việc bằng nhiệm vụ; Lựa chọn người vào việc; Phân bổ các nguồn lực khác; Xây dựng cơ chế làm việc. Chỉ đạo: là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức, làm cho họ gắn kết, nhiệt tình, tự giác và nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra, đánh giá: Là các hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra mặt ưu điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý các kết quả của quá trình vận hành trong tổ chức, làm cho mục tiêu của quản lý được thực hiện đúng hướng và có hiệu quả. Nội dung chức năng kiểm tra là: Xác định tiêu chí (chuẩn mực, đạo đức); Sử dụng phương pháp phù hợp, thu thập thông tin; Phân tích thông tin và đánh giá; Sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi.
Các chức năng quản lý làm nên bản chất quản lý. Nó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Các chức năng này của hoạt động quản lý được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình quản lý có một yếu tố không thể thiếu được, nó có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện cho nhà quản lý khi thực hiện các chức năng quản lý và ra quyết định quản lý đó là thông tin.
Mối liên hệ của các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau : 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 : Mối liên hệ các chức năng quản lý Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức đánh giá Chỉ đạo (Nguồn: Tập bài giảng Cao học quản lý Giáo dục, ĐHQG Hà Nội,2007) [1, tr.6] Mỗi ngành khác nhau thì có đặc trưng quản lý khác nhau. Quản lý giáo dục cũng là một ngành, một bộ môn khoa học có tính liên ngành nhằm vận dụng những khoa học quản lý sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của các hệ thống giáo dục. Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam XHCN, mà tiêu điểm là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
Quản lý giáo dục gồm hai nội dung chính là quản lý nhà nước về giáo dục, quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.