Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban của Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 3: Những biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban của Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Sơ lƣợc một số công trình nghiên cứu về phát triển ĐNCBQL Nghiên cứu về đội ngũ cán bộ quản lý đã có một số công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các đơn vị trường học hoặc các địa phương. Những năm gần đây có một số luận văn đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục làm đề tài tốt nghiệp. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chủ yếu đề cập tới đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao hoặc của phòng giáo dục các quận huyện. Chẳng hạn tác giả Nguyễn Văn Thêm đề xuất các “Biện pháp quản lý của phòng giáo dục trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phổ thông huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang”.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Bình Định đến năm 2010”. Tác giả Nguyễn Văn Toàn nghiên cứu “Các giải pháp quản lý của phòng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học”. Tác giả Hoàng Hồng Trang nghiên cứu “Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ở các phòng ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay”. Trên tạp chí Khoa học giáo dục và tạp chí Nghiên cứu giáo dục cũng có một số bài báo đề cập đến vấn đề này.
Ví dụ một số bài của tác giả Đặng Xuân Hải [16, 17] Qua các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy rằng các nghiên cứu về đội ngũ cán bộ quản lý được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau. Các nghiên cứu trên tập trung chủ yếu vào phát triển đội ngũ cán bộ quản lý theo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấp bậc, nghiên cứu phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cho từng cơ sở giáo dục thuộc cấp bậc nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể về đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban của Học viện Hành chính Quốc gia - Học viện Hành chính Quốc gia. Một số vấn đề chung về Lý luận quản lý: 1.Quản lý - Cán bộ quản lý và phân cấp Cán bộ quản lý 1.1 Quản lý: Mỗi hoạt động, mỗi tổ chức đều phải có con người. Con người là nhân tố cơ bản, quyết định sự thành bại của một tổ chức.
Trong mỗi cơ quan, đơn vị vai trò của công tác quản lý chính là việc tổ chức và điều hành mọi hoạt động của đơn vị. Với bất kỳ một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu hay quy mô khác nhau thì đều cần phải có sự quản lý. Vậy hoạt động quản lý là gì? Định nghĩa được coi là kinh điển nhất đó là: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến đối tượng khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức” [19]. Quản lý, ngoài việc được xem như là một khoa học, một nghệ thuật còn được xem như là công nghệ, công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, để đạt được mục tiêu đề ra.
Khi xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành một nghề: nghề quản lý. Mặc dù tách ra thành hai bộ phận quản lý và lao động trực tiếp nhưng nó có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Hai bộ phận này tạo thành hệ xã hội chung toàn vẹn, bao gồm 2 bộ phận. Bộ phận quản lý – chính là chủ thể quản lý và bộ phận bị quản lý - đối tượng quản lý.
Chung quanh thuật ngữ quản lý còn có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa khái niệm này. Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mác: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng.W TayLor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Koontz thì lại khẳng định : “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau. Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến". Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra.[18;25] Thuật ngữ “Quản lý” (từ Hán Việt) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình “Quản” và “Lý”. Quá trình “Quản” là chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” cho mình và cho cộng đồng; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới là biết tạo ra sự phát triển cho mình và cho mọi người.
Quản lý có ý nghĩa phổ quát cho mỗi con người cũng như cho mỗi tập thể. Bất kỳ một cá nhân hay một cộng đồng nào cũng cần có tư duy, kỹ năng duy trì và phát triển hay nói cách khác là tư duy, kỹ năng quản lý. Đây là một hành động gắn liền giữa nội lực và ngoại lực của mỗi cá nhân hay mỗi cộng đồng làm phát triển cả “vốn con người” cũng như “vốn tổ chức” 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bất kỳ một xã hội phát triển nào thì hoạt động quản lý là một hoạt động tất yếu xảy ra. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng cho dù tiếp cận theo cách nào thì chúng ta cũng phải xem xét bản chất của chức năng lao động đặc biệt này.
Bản chất của hoạt động quản lý là cách tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý. Trong giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục. Trong việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến đội ngũ cán bộ quản lý và các lực lượng khác nhằm thực hiện mục tiêu tăng tiến cả về số lượng và chất lượng đội ngũ.
Vậy bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý. Về chức năng quản lý có nhiều cách phân chia khác nhau, do quan điểm của từng tác giả, song nhìn chung các nhà nghiên cứu về lĩnh vực khoa học quản lý đều cơ bản thống nhất chung chức năng của quản lý là: Kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra. Ngoài 4 chức năng cơ bản của quản lý còn một chức năng cũng đóng vai trò khá quan trọng đó là chức năng thông tin. Có thể khẳng định không có thông tin không có quản lý.
Một người quản lý giỏi phải biết hình thành nên một mạng lưới các mối quan hệ, tiếp xúc, thông qua đó người quản lý sẽ có được những thông tin kịp thời. thông tin giúp cho người quản lý thu nhận được nhứng ý kiến có thể ảnh hưởng đén tổ chức của mình và xác định thông tin nào là chính xác, cần thiết để có thể sử dụng được. Đồng thời người quản lý cũng cần phải chia sẻ thông tin với cấp dưới và các thành viên khác của tổ chức. Một người quản lý giỏi là người phải biết chia sẻ thông tin, tuy nhiên chia sẻ với ai, chia sẻ như thế nào, chia sẻ bao nhiêu là cả một nghệ thuật.
Tóm lại chia sẻ thông tin cũng cân phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng và dúng thời điểm. Tếp nhận thông tin, xử lý thông tin thì đồng thời người quản lý cũng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải biết cung cấp thông tin đến nhiều người và đến nhiều tổ chức khác có liên quan. Không giống như các nguồn lực vật chất khác, thông tin tự nó không tham gia vào việc xác định giá trị của mình, giá trị của thông tin được xác định bởi người sử dụng nó để ra quyết định. Bốn yếu tố cấu thành nên giá trị của thông tin đó là chất lượng, tính phù hợp, số lượng và tính kịp thời.
Trong bối cảnh thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, hàng ngày hàng giờ người quản lý ở bất cứ cấp quản lý nào cũng phải xử lý vô số những thông tin. Để có thể xử lý thông tin một cách chính xác, kịp thời nhằm giúp cho tổ chức có những quyết định đúng đắn cần có hệ thống thông tin quản lý của mỗi bộ phận cũng như của toàn bộ tổ chức Các chức năng của quản lý có liên quan mật thiết với nhau, chúng luôn được thực hiện liên tiếp nhau, đan xen nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý.