Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, chính quyền cấp xã giữ vị trí nền tảng, là cấp hành chính trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp đưa các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “cấp xã là gần gũi nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”.

Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống giữa khu vực đồng bằng với miền núi, giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng. Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tại các xã vùng cao và thu hẹp khoảng cách phát triển, nhiệm vụ then chốt là phải xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật cấp cơ sở có đủ năng lực và phẩm chất. Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn này thông qua đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái”.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các tiêu chí đánh giá sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là tại địa bàn vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức tại 70 xã vùng cao của tỉnh Yên Bái trên cả hai phương diện số lượng và chất lượng giai đoạn 2000 - 2007.
  3. Xác định quan điểm, mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm phát triển đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao tỉnh Yên Bái đến năm 2015.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy chính quyền cấp xã (tiếp cận theo nghĩa hẹp, gồm cán bộ chuyên trách do bầu cử và công chức chuyên môn do tuyển dụng, bổ nhiệm).
  • Phạm vi không gian: 70 xã vùng cao thuộc địa bàn tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2000 - 2007; các phương hướng, mục tiêu và giải pháp được xây dựng với tầm nhìn đến năm 2015 (trọng tâm kế hoạch giai đoạn 2007 - 2012).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và khái niệm nền tảng

Khóa luận vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật và lý luận hành chính nhà nước để định vị đối tượng nghiên cứu:

  • Điều 118 Hiến pháp năm 1992: Quy định về phân định đơn vị hành chính lãnh thổ 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là cấp hành chính cơ sở thấp nhất, trực tiếp quản lý địa bàn và phục vụ nhân dân.
  • Pháp lệnh Cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003): Làm căn cứ phân định khái niệm cán bộ, công chức cấp xã theo nghĩa hẹp:
    • Cán bộ chuyên trách: Là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy và người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã.
    • Công chức cấp xã: Là những người được tuyển dụng, giao giữ 7 chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, gồm: Chỉ huy trưởng quân sự, Trưởng công an, Văn phòng - Thống kê, Tài chính - Kế toán, Địa chính, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội.
    • Quy định chuẩn mực và nghĩa vụ: Vận dụng các điều khoản quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm (không được trốn tránh trách nhiệm, gây bè phái, cửa quyền, hách dịch, thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp tư nhân, bổ nhiệm người thân thích vào các vị trí tài chính, nhân sự trong cùng cơ quan).

Hệ thống tiêu chí đánh giá

Tác giả xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã:

  • Tiêu chí về số lượng: Quy mô số lượng (cán bộ chuyên trách, công chức chuyên môn) và tốc độ tăng trưởng qua các năm.
  • Tiêu chí về chất lượng: Trình độ học vấn phổ thông (Tiểu học, THCS, THPT); Trình độ chuyên môn nghiệp vụ (Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Trên đại học); Trình độ quản lý nhà nước; Trình độ lý luận chính trị (Sơ cấp, Trung cấp, Cao cấp, Cử nhân); Trình độ tin học, ngoại ngữ; Phẩm chất đạo đức và ý thức kỷ luật; Cơ cấu đội ngũ (độ tuổi, giới tính, thành phần dân tộc, ngạch công chức).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính kết hợp định lượng, so sánh đối chiếu chuỗi số liệu theo thời gian, phương pháp tổng hợp và khái quát hóa thực tiễn quản lý hành chính công.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp chính thức từ Báo cáo tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái; Báo cáo chất lượng cán bộ, công chức của Sở Nội vụ tỉnh Yên Bái; Báo cáo thống kê tổng hợp số lượng, chất lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của UBND tỉnh Yên Bái.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự cần thiết khách quan phát triển đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao

Chương 1 làm rõ vị trí, vai trò, đặc điểm của chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vùng cao, đồng thời phân tích các nhân tố quy định sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực này:

  • Vị trí và vai trò: Chính quyền cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa bộ máy nhà nước với nhân dân, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng tại cơ sở. Cán bộ, công chức xã là lực lượng thừa hành trực tiếp, người đại diện cho quyền lợi của dân và là hạt nhân lãnh đạo phát triển tại địa phương.
  • Đặc điểm của đội ngũ: Phần lớn là người bản địa, gắn bó mật thiết với cộng đồng và không thoát ly hẳn hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp; am hiểu địa bàn, phong tục tập quán nhưng trình độ học vấn, chuyên môn không đồng đều, kỹ năng hành chính còn mang tính kinh nghiệm, cảm tính.
  • Các nhân tố ảnh hưởng:
    • Phía cung: Nguồn cán bộ tại chỗ (già làng, trưởng bản, thanh niên nông thôn, bộ đội xuất ngũ, học sinh cử tuyển, cán bộ tăng cường). Tồn tại tâm lý ngại đi học xa và cán bộ có trình độ ở đồng bằng ngại lên công tác tại vùng cao.
    • Phía cầu: Nhu cầu quản lý đặc thù theo điều kiện địa hình, khí hậu, định hướng phát triển nông - lâm nghiệp của từng xã và yêu cầu thay thế các cán bộ lớn tuổi không còn khả năng chuẩn hóa.
    • Cơ chế chính sách: Tác động trực tiếp từ các chính sách của Nhà nước như Chương trình 134, Chương trình 135, chính sách cử tuyển, bồi dưỡng cán bộ và các chính sách ưu đãi riêng của địa phương.

Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2007

1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái

  • Tự nhiên và hành chính: Diện tích tự nhiên 6.822,922 km² (chiếm 2,1% diện tích cả nước, 76% là đồi núi, 10% đất nông nghiệp); gồm 9 đơn vị hành chính (7 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã) với 180 xã, phường, thị trấn. Vùng cao có 70 xã và 2 thị trấn, chiếm tới 67% diện tích toàn tỉnh.
  • Dân cư: Dân số 72 vạn người, mật độ 105 người/km²; gồm 30 dân tộc cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 50,4% (Tày 18,6%, Dao 10,3%, Mông 8,9%, Thái 6,7%, Mường 2,7%, Nùng 1,9%, các dân tộc khác 1,3%).
  • Kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,48% (năm 2000), 10,15% (năm 2005) và 11,66% (năm 2007). Cơ cấu kinh tế năm 2007: Nông lâm nghiệp 36,58%, Công nghiệp - Xây dựng 29,48%, Dịch vụ 33,94%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 đạt 6 triệu đồng/người/năm (bằng 45,2% bình quân cả nước).

2. Thực trạng về số lượng cán bộ, công chức xã vùng cao

Năm Quy mô CBCT (người) Quy mô CC (người) Tốc độ tăng CBCT (%) Tốc độ tăng CC (%) Tỷ lệ CBCT vùng cao/Tổng toàn tỉnh (%) Tỷ lệ CC vùng cao/Tổng toàn tỉnh (%)
2000 530 238 - - 28,11 23,06
2005 673 410 26,98 72,69 33,32 28,77
2007 683 423 1,49 3,17 33,67 29,12

Ghi chú: CBCT: Cán bộ chuyên trách; CC: Công chức chuyên môn. Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái.

Số liệu cho thấy quy mô đội ngũ tăng mạnh trong giai đoạn 2000 - 2005 (đặc biệt công chức chuyên môn tăng 72,69%), sau đó bước vào giai đoạn ổn định về số lượng trong giai đoạn 2005 - 2007 (tăng trưởng lần lượt 1,49% và 3,17%). Tỷ trọng cán bộ, công chức vùng cao trong tổng biên chế cấp xã toàn tỉnh tăng từ mức 23 - 28% năm 2000 lên mức 29 - 33% năm 2007.

3. Thực trạng về chất lượng cán bộ, công chức xã vùng cao

  • Trình độ học vấn (năm 2005):
    • Cán bộ chuyên trách: Trình độ THCS chiếm tỷ trọng chủ yếu (Phó Bí thư: 67,74%; Thường trực Đảng: 62,5%; Chủ tịch UBND: 52,94%; Chủ tịch UBMTTQ: 63,33%; Chủ tịch Hội Nông dân: 65%). Vẫn còn một tỷ lệ cán bộ giữ chức danh lãnh đạo có trình độ Tiểu học (Chủ tịch UBMTTQ: 21,67%; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: 18,33%; Chỉ huy phó quân sự: 13,33%).
    • Công chức chuyên môn: Trình độ học vấn cao hơn, tập trung ở mức THPT (Địa chính - Xây dựng: 75,87%; Văn phòng - Tổng hợp: 75,76%; Tài chính - Kế toán: 74,59%; Tư pháp - Hộ tịch: 71,20%).
  • Trình độ chuyên môn (2000 - 2007):
Năm Chưa qua đào tạo (người / %) Sơ cấp (người / %) Trung cấp, Cao đẳng (người / %) Đại học, Trên ĐH (người / %)
2000 560 (72,54%) 40 (5,18%) 162 (20,98%) 10 (1,30%)
2005 712 (62,07%) 75 (6,54%) 329 (28,68%) 31 (2,71%)
2007 618 (57,76%) 82 (7,66%) 334 (31,21%) 36 (3,37%)

Tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn giảm từ 72,54% xuống 57,76%, tuy nhiên vẫn chiếm quá nửa tổng số biên chế. Tỷ lệ có trình độ đại học và trên đại học năm 2007 chỉ đạt 3,37% (36 người).

  • Trình độ quản lý nhà nước và lý luận chính trị:
    • Quản lý nhà nước: Năm 2007, tỷ lệ có trình độ trung cấp đạt 59,50% (194 người), bồi dưỡng ngắn hạn chiếm 29,45% (96 người), sơ cấp chiếm 9,82% (32 người), trình độ cử nhân chỉ có 4 người (1,23%).
    • Lý luận chính trị: Năm 2007, trình độ trung cấp chiếm 78,68% (347 người), sơ cấp chiếm 20,18% (89 người), cao cấp chiếm 1,14% (5 người).
  • Trình độ tin học và ngoại ngữ: Cực kỳ hạn chế. Năm 2000, toàn bộ 70 xã vùng cao chỉ có 2 người biết tin học và 0 người có trình độ ngoại ngữ. Đến năm 2007, số người có trình độ ngoại ngữ là 3 người và trình độ tin học là 5 người trên tổng số hơn 1.100 cán bộ, công chức.
  • Cơ cấu độ tuổi, giới tính và dân tộc:
Chỉ tiêu cơ cấu Năm 2000 (người / %) Năm 2005 (người / %) Năm 2007 (người / %)
Cán bộ trẻ dưới 35 tuổi 22,32% 30,84% 31,74%
Nam giới 666 (86,95%) 907 (83,75%) 906 (84,12%)
Nữ giới 100 (13,05%) 176 (16,25%) 171 (15,88%)
Dân tộc thiểu số 393 (51,31%) 711 (65,65%) 698 (64,81%)

Cơ cấu có sự chuyển biến tích cực trong việc trẻ hóa (tỷ lệ dưới 35 tuổi tăng từ 22,32% lên 31,74%) và gia tăng tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia chính quyền (từ 51,31% lên gần 65%). Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ nữ vẫn ở mức rất thấp (dưới 16%), thể hiện sự bất bình đẳng giới bắt nguồn từ các rào cản tập quán lạc hậu.

4. Đánh giá tổng hợp

  • Mặt tích cực: Đội ngũ CBCC vùng cao am hiểu phong tục tập quán, gắn bó với địa bàn; năng lực quy tụ và uy tín cá nhân tốt; cơ cấu đang dần hoàn thiện theo hướng trẻ hóa và tăng cường thành phần dân tộc thiểu số; công tác đào tạo, bồi dưỡng bước đầu phát huy tác dụng.
  • Mặt hạn chế: Nguồn cung chủ yếu khép kín tại chỗ; trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thấp; thiếu hụt trầm trọng kỹ năng tin học, ngoại ngữ; tình trạng bố trí công tác trái chuyên môn đào tạo còn phổ biến; một bộ phận cán bộ lề lối làm việc còn ỷ lại, thụ động, kỷ luật lao động chưa nghiêm; cơ sở vật chất trụ sở làm việc tại nhiều xã xuống cấp nghiêm trọng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, công chức xã vùng cao của tỉnh Yên Bái đến 2015

1. Quan điểm phát triển

  • Phát triển đội ngũ phải coi trọng cả đức và tài, lấy đức làm gốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Coi phát triển nguồn nhân lực cán bộ cơ sở là chiến lược đột phá thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng cao.
  • Đẩy mạnh thực hiện chủ trương trẻ hóa đội ngũ gắn liền với tiêu chuẩn hóa chức danh.
  • Xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ.
  • Xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù nhằm thu hút cán bộ có trình độ lên công tác tại vùng cao (theo tinh thần Nghị quyết kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh Yên Bái năm 2007).

2. Mục tiêu cụ thể

  • Mục tiêu tổng quát đến 2015: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạt chuẩn về trình độ văn hóa, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước và tin học văn phòng đáp ứng yêu cầu công vụ.
  • Mục tiêu giai đoạn 2007 - 2012:
    • Về thu hút, tiếp nhận: Tiếp nhận khoảng 268 cán bộ có trình độ chuyên môn cao vào các cơ quan nhà nước; trong đó ưu tiên hơn 50 chỉ tiêu cho ngành y tế, số còn lại phân bổ cho các lĩnh vực kinh tế, giao thông, xây dựng, thương mại, du lịch, giáo dục.
    • Về đào tạo, bồi dưỡng: Hàng năm cử khoảng 400 lượt cán bộ, viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng; trong đó bồi dưỡng ngắn hạn trên 300 lượt người/năm, phần còn lại dành cho đào tạo đại học, sau đại học và hệ cử tuyển cho cán bộ dân tộc thiểu số.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Bức tranh thực trạng số liệu toàn diện: Khóa luận đã hệ thống hóa chuỗi số liệu định lượng chi tiết giai đoạn 2000 - 2007 về đội ngũ cán bộ, công chức tại 70 xã vùng cao tỉnh Yên Bái theo 8 nhóm tiêu chí (quy mô, học vấn, chuyên môn, quản lý nhà nước, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học, cơ cấu nhân khẩu học).
  2. Nhận diện mâu thuẫn nội tại trong công tác nhân sự cơ sở: Chỉ ra khoảng cách lớn giữa tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn (chiếm tới 57,76% năm 2007) và sự thiếu hụt gần như tuyệt đối về công nghệ thông tin (chỉ 5 người có trình độ tin học trên toàn bộ 70 xã) với yêu cầu hiện đại hóa hành chính.
  3. Phân tích tính hai mặt của nhân sự địa phương: Làm rõ ưu thế am hiểu tiếng nói, phong tục của cán bộ người dân tộc thiểu số (chiếm 64,81% năm 2007) nhưng đồng thời chỉ rõ rào cản về tính dòng họ, tâm lý ngại đi học xa và năng lực chuyên môn hạn chế.

Giải pháp và định hướng do tác giả đề xuất

  • Chuẩn hóa quy trình tuyển dụng, chuyển dần từ cơ chế “tuyển trước đào tạo sau” sang thi tuyển gắn với tiêu chuẩn ngạch công chức.
  • Đổi mới nội dung chương trình bồi dưỡng: tích hợp kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật và kỹ năng tin học ứng dụng với bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.
  • Thực hiện cơ chế liên kết chính sách thu hút nhân tài (đãi ngộ tài chính, điều kiện nhà ở công vụ) với cơ chế cử tuyển và cam kết phục vụ tại vùng khó khăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát số liệu dừng lại ở năm 2007, chưa phản ánh được các biến động chính sách sau khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 chính thức có hiệu lực.
    • Hướng tiếp cận nghiên cứu chủ yếu theo nghĩa hẹp (tập trung vào bộ máy HĐND, UBND và 7 chức danh công chức), chưa phân tích sâu toàn diện về khối cơ quan Đảng và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cấp xã.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Khảo sát và đánh giá kết quả triển khai mục tiêu thu hút 268 cán bộ và chương trình đào tạo 400 lượt cán bộ/năm của tỉnh Yên Bái giai đoạn sau 2007 - 2012.
    • Nghiên cứu tác động của ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số đối với việc nâng cao hiệu quả làm việc của công chức cấp xã vùng cao.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên các chuyên ngành Quản lý nhà nước, Khoa học quản lý, Quản trị nhân lực công, Xã hội học và Phát triển nông thôn.
  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và phương pháp tiếp cận đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đặc thù cho các cơ quan tham mưu chính sách như Sở Nội vụ, Ban Tổ chức Tỉnh ủy tại các tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng với Yên Bái.
  • Phần nội dung giá trị nhất: Hệ thống bảng biểu phân tích trình độ học vấn theo từng chức danh lãnh đạo và công chức chuyên môn (Bảng 2a, Bảng 2b), giúp nhận diện chính xác các vị trí cần ưu tiên chuẩn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận khái niệm cán bộ, công chức cấp xã theo nghĩa hẹp bao gồm những chức danh cụ thể nào?
Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 được tác giả sử dụng, cán bộ, công chức cấp xã theo nghĩa hẹp gồm hai bộ phận: Cán bộ chuyên trách lãnh đạo thuộc Thường trực HĐND, UBND, Đảng ủy, đoàn thể cấp xã; và Công chức chuyên môn giữ 7 chức danh thuộc UBND cấp xã (Chỉ huy trưởng quân sự, Trưởng công an, Văn phòng - Thống kê, Tài chính - Kế toán, Địa chính, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội).

2. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức tại 70 xã vùng cao Yên Bái năm 2007 có đặc điểm gì?
Năm 2007, tỷ lệ cán bộ, công chức chưa qua đào tạo chuyên môn vẫn chiếm đa số với 57,76% (618 người). Tỷ lệ có trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm 31,21% (334 người), sơ cấp chiếm 7,66% (82 người), trong khi trình độ đại học và sau đại học chỉ đạt 3,37% (36 người).

3. Thực trạng trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ, công chức xã vùng cao giai đoạn 2000 - 2007 như thế nào?
Trình độ tin học và ngoại ngữ ở mức rất thấp. Năm 2000, toàn bộ 70 xã vùng cao chỉ có 2 người có trình độ tin học và không có ai có trình độ ngoại ngữ. Đến năm 2007, toàn vùng cũng chỉ ghi nhận 5 người có trình độ tin học và 3 người có trình độ ngoại ngữ.

4. Cơ cấu giới tính và dân tộc trong đội ngũ cán bộ, công chức xã vùng cao có tỷ lệ ra sao vào năm 2007?
Đội ngũ mang tính bất bình đẳng giới rõ rệt khi nam giới chiếm 84,12% (906 người) và nữ giới chỉ chiếm 15,88% (171 người). Về thành phần dân tộc, cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm đa số với 64,81% (698 người).

5. Mục tiêu cụ thể về tiếp nhận và đào tạo cán bộ của tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2007 - 2012 được đề ra là gì?
Tỉnh đặt mục tiêu tiếp nhận khoảng 268 cán bộ có trình độ chuyên môn cao (trong đó hơn 50 chỉ tiêu dành cho ngành y tế). Đồng thời, mỗi năm cử khoảng 400 lượt cán bộ, viên chức tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng (gồm hơn 300 lượt bồi dưỡng ngắn hạn, còn lại là đào tạo đại học cử tuyển và sau đại học).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh chân thực và có hệ thống thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức tại 70 xã vùng cao tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2007 dựa trên nguồn số liệu thứ cấp đáng tin cậy. Công trình đã làm nổi bật những đặc thù, mâu thuẫn cơ bản giữa nhu cầu quản lý hiện đại với năng lực thực tế của nguồn nhân lực cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp giai đoạn 2007 - 2012, định hướng đến năm 2015 được xây dựng bám sát các nghị quyết của địa phương, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác xây dựng chính quyền cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc.