Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh" do sinh viên Đào Thị Ngọc Lan (ngành Quản lý nhà nước, chuyên ngành Quản lý công, Học viện Chính sách và Phát triển) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Hồng Hạnh. Nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh Bắc Ninh — địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Trong cơ cấu kinh tế địa phương giai đoạn 2020–2024, khu vực công nghiệp – xây dựng giữ vai trò trụ cột khi đóng góp trên 70% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Bên cạnh các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn thu hút các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Canon, Foxconn hay Amkor, hệ thống cụm công nghiệp giữ vị trí thiết yếu trong việc tạo mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở tiểu thủ công nghiệp và phục vụ di dời các cơ sở sản xuất xen cài trong khu dân cư.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển hệ thống cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy hoạch ở một số nơi thiếu tính đồng bộ; tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật còn chậm; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều vướng mắc; nguy cơ ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát triệt để; công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát sau cấp phép chưa phát huy tối đa hiệu lực. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, đánh giá toàn diện công tác quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020–2024, làm rõ các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến công nghiệp, cụm công nghiệp và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp.
  2. Phân tích thực trạng phát triển các cụm công nghiệp cũng như hoạt động quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2020–2024.
  3. Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra các hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý và phân tích nguyên nhân của những tồn tại đó.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp, tập trung vào các nội dung: quy hoạch và kế hoạch phát triển; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; quản lý đất đai và giải phóng mặt bằng; bảo vệ môi trường; quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra và các chính sách hỗ trợ, ưu đãi.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Ninh (bao gồm các huyện, thị xã, thành phố có phân bố cụm công nghiệp như Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, thị xã Từ Sơn).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, đối sánh số liệu và phân tích thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024.
  • Phạm vi nội dung: Các quan hệ quản lý hành chính nhà nước đối với cụm công nghiệp theo thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện và các cơ quan chuyên môn.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về khung lý luận, đề tài tiếp cận khái niệm công nghiệp theo giáo trình Kinh tế công nghiệp (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) và khái niệm cụm công nghiệp dựa trên sự tổng hợp từ các văn bản pháp quy: Nghị định số 68/2017/NĐ-CP và Nghị định số 32/2024/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Cụm công nghiệp được định vị là hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp quy mô vừa và nhỏ (thường dao động từ vài chục đến dưới 75 ha), có hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung, nhằm phục vụ các cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp được xác định là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng công cụ pháp lý, chính sách và nguồn lực để định hướng, điều tiết, kiểm soát và hỗ trợ toàn bộ quá trình hình thành, xây dựng hạ tầng và vận hành của cụm công nghiệp. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này bao gồm: Luật Đầu tư năm 2020, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các Nghị định chuyên ngành về cụm công nghiệp và Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét công tác quản lý nhà nước trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế – xã hội và phát triển bền vững.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác số liệu từ Báo cáo thống kê tình hình phát triển cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh, các Báo cáo kinh tế – xã hội định kỳ của UBND tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020–2024, cùng hệ thống văn bản pháp luật, quy hoạch phát triển công nghiệp của địa phương.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý, đối chiếu các chỉ tiêu định lượng (diện tích, tỷ lệ lấp đầy, số lượng dự án, cơ cấu vốn FDI/DDI) và thông tin định tính để làm rõ thực trạng quản lý.
  • Phương pháp so sánh: Đánh giá sự chuyển biến của các chỉ tiêu quản lý qua các mốc thời gian (2020, 2022, 2024) và đối chiếu quy định pháp luật với thực tế triển khai.
  • Phương pháp logic – lịch sử: Xem xét quá trình hình thành, phát triển cụm công nghiệp gắn liền với từng giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tổ chức lãnh thổ công nghiệp và vai trò quản lý nhà nước. Tác giả phân tích cụm công nghiệp dưới góc độ không gian sản xuất tập trung quy mô vừa và nhỏ, đóng vai trò giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu ngân sách, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng và giảm thiểu ô nhiễm trong khu dân cư. Quản lý nhà nước giữ 4 vai trò nòng cốt: định hướng phát triển theo quy hoạch; tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch; kiểm soát các tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội; và bảo đảm kỷ cương pháp luật.

Về chủ thể quản lý, văn bản phân định thẩm quyền thống nhất của Chính phủ ở cấp trung ương và vai trò chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Bắc Ninh ở địa phương. Trong đó, Sở Công Thương là cơ quan đầu mối tham mưu, phối hợp cùng các sở chuyên ngành (Sở Xây dựng, Sở Tài chính, cơ quan quản lý nông nghiệp và môi trường) và UBND cấp huyện (phụ trách trật tự xây dựng, an ninh trật tự, quản lý đất đai và giải phóng mặt bằng). Tác giả chi tiết hóa 8 nội dung quản lý nhà nước:

  1. Quản lý quy hoạch và kế hoạch phát triển cụm công nghiệp.
  2. Quản lý đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật.
  3. Quản lý đất đai và công tác giải phóng mặt bằng.
  4. Quản lý môi trường (báo cáo đánh giá tác động môi trường, hệ thống xử lý nước thải tập trung, quan trắc tự động).
  5. Quản lý doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (cấp phép đầu tư, giám sát chấp hành pháp luật).
  6. Quản lý lao động, việc làm và bảo đảm an sinh xã hội.
  7. Thanh tra, kiểm tra và giám sát.
  8. Tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ và ưu đãi đầu tư.

Chương này cũng phân tích 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng: hệ thống thể chế pháp luật; chất lượng công tác quy hoạch; năng lực tổ chức bộ máy và cán bộ; nguồn lực tài chính hạ tầng; ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; và các yếu tố kinh tế - xã hội bên ngoài. Cuối chương, tác giả khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn từ 3 địa phương:

  • Thành phố Hà Nội: Chú trọng gắn quy hoạch cụm công nghiệp với bảo tồn làng nghề truyền thống và phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền cấp huyện.
  • Tỉnh Hải Dương: Đẩy mạnh xã hội hóa thu hút doanh nghiệp tư nhân làm chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật và thực hiện thanh tra có trọng tâm, trọng điểm.
  • Tỉnh Vĩnh Phúc: Vận hành cơ chế "một cửa, một cửa liên thông" trong giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng; quy định bắt buộc phải hoàn thành trạm xử lý nước thải tập trung trước khi cụm công nghiệp vận hành chính thức.

Từ đó, 5 bài học kinh nghiệm được rút ra cho Bắc Ninh gồm: nâng cao chất lượng quy hoạch đồng bộ; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật thiết yếu; đặt bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm; đẩy mạnh cải cách hành chính; và nâng cao năng lực phối hợp liên ngành của đội ngũ công chức.

Chương 2: Thực tiễn quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020–2024. Với dân số khoảng 1,45 triệu người, lực lượng lao động chiếm trên 60% (chủ yếu từ 18–40 tuổi), mật độ dân số đạt 1.200 người/km² và GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt khoảng 5.500 USD, Bắc Ninh có nền tảng vững chắc để phát triển công nghiệp. Vốn FDI đăng ký mới toàn tỉnh trong giai đoạn này đạt 2,1 tỷ USD.

Hệ thống cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng về số lượng, quy mô và mức độ thu hút doanh nghiệp:

Chỉ tiêu phát triển cụm công nghiệp Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 Năm 2024
Số cụm công nghiệp quy hoạch (cụm) 32 34 36 37 39
Số cụm công nghiệp đi vào hoạt động (cụm) 22 24 26 28 30
Tổng diện tích cụm công nghiệp (ha) 2.497 - - - 3.497
Tỷ lệ lấp đầy bình quân (%) 72 76 80 83 85
Doanh nghiệp thứ cấp (ước tính) ~620 ~690 ~750 ~820 ~880
Doanh nghiệp FDI vào cụm công nghiệp 180 196 215 240 260

Cơ cấu dự án và nguồn vốn đầu tư vào các cụm công nghiệp có sự dịch chuyển rõ nét qua các mốc thời gian:

Chỉ tiêu đầu tư trong cụm công nghiệp Năm 2020 Năm 2022 Năm 2024
Số cụm công nghiệp được đầu tư hạ tầng 22 26 39
Cụm công nghiệp có doanh nghiệp hoạt động 22 24 30
Số lượng dự án đầu tư trong cụm công nghiệp ~620 ~750 ~880
Tổng vốn đầu tư ước tính (triệu USD) ~580 ~735 ~920
Số dự án đầu tư trong nước (DDI) ~600 ~690 ~810
Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ~20 ~60 ~70

Khóa luận chỉ ra sự chênh lệch đáng kể về diện tích và tỷ lệ lấp đầy giữa các cụm công nghiệp tiêu biểu trên địa bàn:

Tên cụm công nghiệp Diện tích (ha) Tỷ lệ lấp đầy (%)
Cụm công nghiệp Xuân Lâm 49,5 80
Cụm công nghiệp Khắc Niệm 92,5 73
Cụm công nghiệp Lỗ Xung 9,7 65
Cụm công nghiệp Tân Hồng 17,8 76

Về thực tiễn công tác quản lý quy hoạch, số liệu thống kê phản ánh những bất cập nội tại trong khâu lập và triển khai kế hoạch:

Chỉ tiêu quản lý quy hoạch Năm 2020 Năm 2022 Năm 2024
Số cụm công nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch 22 31 36
Số cụm công nghiệp điều chỉnh quy hoạch 4 7 12
Số cụm công nghiệp chậm triển khai so với quy hoạch 6 8 15
Cụm công nghiệp hoạt động hiệu quả (địa phương đánh giá) 16 23 64

Đánh giá tổng quát của chương chỉ ra các mặt tích cực: bộ máy quản lý từng bước được kiện toàn; tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp tăng trưởng đều đặn (đạt 85% năm 2024); thu hút được 880 dự án với tổng vốn 920 triệu USD; giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Ngược lại, những hạn chế nổi cộm gồm: số cụm công nghiệp chậm triển khai tăng từ 6 lên 15 cụm; 12 cụm phải điều chỉnh quy hoạch; công tác giải phóng mặt bằng chậm; việc đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung chưa theo kịp tốc độ lấp đầy; quy mô vốn bình quân của các dự án còn thấp, chưa thu hút được nhiều công nghệ cao.

Chương 3: Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh

Dựa trên Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 và định hướng phát triển công nghiệp đến năm 2045, Chương 3 đề xuất hệ thống 7 giải pháp quản lý nhà nước có tính liên kết chặt chẽ:

  1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và tổ chức bộ máy: Kiện toàn bộ phận chuyên trách quản lý cụm công nghiệp tại Sở Công Thương và phòng chuyên môn cấp huyện; tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý liên ngành về đất đai, xây dựng, môi trường.
  2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện: Cụ thể hóa các nghị định mới của Chính phủ (Nghị định 32/2024/NĐ-CP), ban hành quy chế phối hợp quản lý rõ ràng giữa các sở, ban, ngành và chính quyền cấp huyện nhằm chấm dứt tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
  3. Nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng và quản lý hạ tầng: Lựa chọn chủ đầu tư hạ tầng có năng lực tài chính và kinh nghiệm thực tế; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư; kiên quyết xử lý hoặc thu hồi các dự án hạ tầng chậm tiến độ.
  4. Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Bắt buộc đầu tư hoàn chỉnh và vận hành ổn định hệ thống xử lý nước thải tập trung; lắp đặt trạm quan trắc nước thải tự động kết nối dữ liệu về cơ quan quản lý môi trường tỉnh; kiểm soát chặt chẽ rác thải công nghiệp.
  5. Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp: Xây dựng tiêu chí sàng lọc dự án thứ cấp, ưu tiên công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chế tạo, điện tử; hạn chế ngành nghề thâm dụng lao động phổ thông và phát sinh nguồn thải lớn; cải cách thủ tục hành chính về cấp phép đầu tư.
  6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát: Xây dựng kế hoạch liên ngành nhằm tránh thanh tra trùng lặp, gây phiền hà cho doanh nghiệp; áp dụng quản lý rủi ro và tăng cường chế tài xử phạt, hậu kiểm sau thanh tra.
  7. Hoàn thiện công tác quy hoạch và nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch: Nâng cao chất lượng khảo sát ban đầu; đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa quy hoạch cụm công nghiệp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và quy hoạch giao thông của tỉnh.

Bên cạnh các giải pháp nội bộ địa phương, tác giả đề xuất các kiến nghị:

  • Đối với Trung ương: Sớm hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định mới về cụm công nghiệp; tăng cường phân cấp thẩm quyền cho địa phương gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực.
  • Đối với các doanh nghiệp: Doanh nghiệp hạ tầng cần tập trung nguồn lực tài chính thi công đúng tiến độ cam kết; các doanh nghiệp thứ cấp phải nghiêm túc tuân thủ pháp luật về lao động, an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và nghĩa vụ thuế.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực chứng cụ thể về sự phát triển của hệ thống cụm công nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 2020–2024. Kết quả nghiên cứu làm rõ các bước phát triển cụ thể: số cụm công nghiệp quy hoạch tăng từ 32 lên 39; số cụm vận hành tăng từ 22 lên 30; tổng diện tích mở rộng từ 2.497 ha lên 3.497 ha; tỷ lệ lấp đầy bình quân tăng từ 72% lên 85%; thu hút gần 880 dự án với tổng vốn đầu tư ước đạt 920 triệu USD (trong đó khu vực DDI chiếm ưu thế với 810 dự án, khu vực FDI đạt 70 dự án).

Về mặt đóng góp so với các nghiên cứu trước, khóa luận đã:

  • Phân tích toàn diện hoạt động quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên phạm vi một địa phương trọng điểm công nghiệp theo chu trình quản lý khép kín: từ quy hoạch, cấp phép đầu tư, xây dựng hạ tầng, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường cho đến thanh tra, kiểm tra và giám sát.
  • Nhận diện chính xác các hạn chế mang tính hệ thống thông qua số liệu định lượng: 12 cụm phải điều chỉnh quy hoạch và 15 cụm chậm triển khai vào năm 2024, từ đó chỉ ra nguyên nhân cốt lõi từ sự thiếu đồng bộ giữa các quy hoạch chuyên ngành và năng lực của một bộ phận chủ đầu tư hạ tầng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết trực tiếp với định hướng Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 và bối cảnh áp dụng khuôn khổ pháp lý mới (Nghị định 32/2024/NĐ-CP).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Về hạn chế, công trình chủ yếu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, chưa tiến hành điều tra, khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi diện rộng đối với các chủ đầu tư hạ tầng và cộng đồng doanh nghiệp thứ cấp hoạt động bên trong cụm. Tác giả cũng tự nhận định công trình còn những hạn chế nhất định về kinh nghiệm nghiên cứu khoa học thực tiễn và thời gian thu thập tư liệu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ phạm vi đề tài bao gồm:

  • Mở rộng đánh giá thực nghiệm mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục hành chính trong cụm công nghiệp.
  • Nghiên cứu cơ chế chuyển đổi mô hình cụm công nghiệp truyền thống sang mô hình cụm công nghiệp sinh thái, phát triển kinh tế tuần hoàn theo các tiêu chuẩn môi trường mới tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
  • Đánh giá tác động chuyên sâu của Nghị định 32/2024/NĐ-CP đối với việc phân cấp quản lý cụm công nghiệp cho cấp huyện trong giai đoạn sau năm 2025.

Giá trị tham khảo và đối tượng thụ hưởng

Khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn đối với:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học các ngành Quản lý nhà nước, Quản lý công, Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quy hoạch không gian: Cung cấp khung phân tích chuẩn mực về chức năng quản lý nhà nước đối với một thiết chế kinh tế cụ thể tại cấp tỉnh, cùng phương pháp tiếp cận xử lý số liệu thống kê quản lý chuyên ngành.
  • Cán bộ, công chức làm việc tại Sở Công Thương, Ban Quản lý các khu/cụm công nghiệp, Sở Xây dựng, cơ quan quản lý tài nguyên - môi trường và phòng Kinh tế - Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện: Cung cấp tài liệu đối sánh thực tiễn, số liệu chi tiết về tỷ lệ lấp đầy, hiện trạng hạ tầng và những vướng mắc pháp lý phổ biến trong công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, vận hành hệ thống xử lý nước thải cụm công nghiệp.
  • Các nhà đầu tư hạ tầng kỹ thuật và doanh nghiệp sản xuất: Nắm bắt bức tranh tổng quan về quy hoạch phân bố, định hướng ưu tiên ngành nghề và yêu cầu pháp lý môi trường khi đầu tư vào hệ thống cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020–2024 có đặc điểm gì nổi bật tác động đến sự phát triển của các cụm công nghiệp?
Ngành công nghiệp – xây dựng giữ vai trò chủ lực, chiếm trên 70% GRDP toàn tỉnh; khu vực dịch vụ chiếm 25–27% và nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 3–5%. Nền kinh tế định hướng mạnh mẽ vào công nghiệp chế tạo, điện tử, với GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt khoảng 5.500 USD và vốn FDI đăng ký mới đạt 2,1 tỷ USD. Cơ cấu này tạo nhu cầu mặt bằng sản xuất rất lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy hệ thống cụm công nghiệp mở rộng nhanh chóng.

2. Đến năm 2024, tỉnh Bắc Ninh có bao nhiêu cụm công nghiệp quy hoạch và bao nhiêu cụm đã chính thức đi vào hoạt động?
Theo Báo cáo thống kê cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninh được khóa luận trích dẫn, tính đến năm 2024, toàn tỉnh có 39 cụm công nghiệp được phê duyệt quy hoạch với tổng diện tích 3.497 ha. Trong số đó, có 30 cụm công nghiệp đã chính thức đi vào hoạt động, đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân 85%.

3. Tình hình thu hút dự án đầu tư trong nước (DDI) và đầu tư nước ngoài (FDI) vào các cụm công nghiệp Bắc Ninh có tỷ lệ như thế nào?
Tính đến năm 2024, các cụm công nghiệp tại Bắc Ninh có khoảng 880 dự án với tổng vốn đầu tư ước đạt 920 triệu USD. Trong đó, đầu tư trong nước chiếm đa số với khoảng 810 dự án (chiếm trên 92% số lượng dự án), còn khu vực FDI có khoảng 70 dự án trực tiếp và khoảng 260 doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động tại các cụm công nghiệp.

4. Dữ liệu thực tế nào trong khóa luận chứng minh công tác quản lý quy hoạch cụm công nghiệp tại Bắc Ninh còn nhiều vướng mắc?
Bảng thống kê 2.4 của khóa luận chỉ rõ: giai đoạn 2020–2024, số cụm công nghiệp phải điều chỉnh quy hoạch tăng từ 4 cụm lên 12 cụm. Đồng thời, số cụm công nghiệp chậm triển khai so với quy hoạch ban đầu tăng từ 6 cụm (năm 2020) lên 15 cụm (năm 2024), phản ánh những bất cập về chất lượng khảo sát ban đầu và vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng, bố trí hạ tầng.

5. Cơ quan nào giữ vai trò đầu mối tham mưu giúp UBND tỉnh Bắc Ninh quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp?
Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh là cơ quan đầu mối chuyên trách, có nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh trong việc lập, thẩm định quy hoạch, đề xuất thành lập cụm công nghiệp, theo dõi tình hình hoạt động, đồng thời chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND cấp huyện để thực hiện các nội dung quản lý nhà nước theo quy định.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Ngọc Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo có kết cấu chặt chẽ, tiếp cận trực tiếp và giải quyết thấu đáo vấn đề quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh. Dựa trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2020–2024, nghiên cứu đã khắc họa rõ nét thành tựu lấp đầy không gian sản xuất công nghiệp, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn về hạ tầng môi trường, quy hoạch và phân cấp quản lý. Hệ thống giải pháp đề xuất tại Chương 3 bám sát định hướng Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách và quản lý công nghiệp địa phương.