Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ tập trung giải quyết bài toán phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng mở cửa và tham gia sâu rộng vào các định chế kinh tế toàn cầu.

Về tính cấp thiết, tác giả nêu rõ khu vực DNNVV giữ vai trò trọng yếu đối với sự ổn định và tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước. Tại Việt Nam, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới hơn 96% tổng số doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho gần một nửa lực lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp, đóng góp từ 25% đến 28% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, tiến trình hội nhập quốc tế đặt khu vực này trước những áp lực cạnh tranh quyết liệt. Thực tế này đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ từ hệ thống thể chế quản lý nhà nước cũng như sự chuyển biến từ nội tại doanh nghiệp. Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ mặc dù đã có nhiều sách báo và công trình tiếp cận đề tài DNNVV, song trước thời điểm nghiên cứu chưa có một luận án tiến sĩ nào trực tiếp khảo sát và phân tích toàn diện sự phát triển của khu vực DNNVV đặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm tiếp tục khuyến khích phát triển DNNVV một cách hiệu quả trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến sự phát triển DNNVV, đồng thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng khu vực DNNVV và môi trường thể chế phát triển DNNVV tại Việt Nam dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế.
  3. Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển khu vực DNNVV có hiệu quả hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là thực trạng và lý luận phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn rõ ràng trên hai phương diện:

  • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu sự phát triển của DNNVV trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, không mở rộng sang các điều kiện hội nhập phi kinh tế khác.
  • Về thời gian và không gian: Luận án giới hạn khảo sát trong giai đoạn đổi mới từ sau năm 1987, đặc biệt chú trọng giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời; lịch sử phát triển DNNVV của Việt Nam ở các giai đoạn trước Đổi mới không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu và cơ sở thực tiễn, tác giả đã điểm lại hệ thống các văn bản pháp quy, các nghiên cứu và tài liệu thống kê liên quan trực tiếp đến tiêu chuẩn phân loại và chính sách phát triển DNNVV:

  • Các tiêu chí xác định DNNVV trong nước trước khi có khung pháp lý thống nhất: Tiêu chuẩn của Ngân hàng Công thương Việt Nam (giá trị tài sản dưới 10 tỉ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỉ đồng, doanh thu dưới 8 tỉ đồng và lao động thường xuyên dưới 500 người); quy định của Thành phố Hồ Chí Minh (doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỉ đồng, doanh thu hàng năm trên 10 tỉ đồng và lao động thường xuyên trên 100 người được xếp vào quy mô vừa; dưới mức này là quy mô nhỏ); tiêu thức của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) tại Việt Nam năm 1998 (doanh nghiệp nhỏ có dưới 50 lao động, vốn và doanh thu dưới 1 tỉ đồng; doanh nghiệp vừa có từ 51 đến 200 lao động, vốn và doanh thu từ 1 tỉ đến 5 tỉ đồng).
  • Hệ thống pháp luật quốc gia: Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV; Nghị định số 109/2004/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh; Luật Doanh nghiệp năm 2000; Luật Doanh nghiệp nhà nước; Luật Hợp tác xã.
  • Các công trình và tài liệu nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Tài liệu của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) năm 1999 về chính sách hỗ trợ DNNVV Nhật Bản; tài liệu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dân số và Xã hội Thái Lan năm 2000; ấn phẩm "Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam" do Nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2003; số liệu điều tra chi phí đầu vào của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); cùng tài liệu hội thảo ngày 15/11/2004 tại Hà Nội với bài phát biểu của Michael Moore, nguyên Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Khắc phục những bất cập của khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam (cụ thể là Nghị định số 90/2001/NĐ-CP) khi sử dụng tiêu chí lao động bình quân và vốn đăng ký kinh doanh vốn còn nhiều điểm chưa phản ánh sát thực tế; đồng thời xây dựng một nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và giải pháp phát triển DNNVV gắn chặt với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và chuẩn bị gia nhập WTO của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm và phạm trù kinh tế học cốt lõi:

  • Khái niệm và tiêu chí xác định DNNVV: Phân biệt rõ giữa nhóm tiêu chí định tính (trình độ chuyên môn hóa, số đầu mối quản trị, tính phức tạp trong điều hành) và nhóm tiêu chí định lượng (số lượng lao động, vốn hoạt động, tổng tài sản, doanh thu hoặc lợi nhuận).
  • Lý luận về vai trò kinh tế - xã hội của DNNVV: Phân tích sự đóng góp vào GDP, năng lực huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động thị trường, việc duy trì ngành nghề truyền thống, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo ngành, vùng lãnh thổ và thành phần kinh tế), vai trò liên kết vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, việc làm chi phí thấp, xóa đói giảm nghèo và đào tạo tầng lớp doanh nhân.
  • Môi trường thể chế phát triển DNNVV: Hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước và thủ tục hành chính can dự trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp. Luận án nhấn mạnh vai trò tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, nhất là trong nền kinh tế đang chuyển đổi.
  • Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế: Xu thế tất yếu của lực lượng sản xuất, sự mở rộng phân công lao động quốc tế, vai trò điều tiết của các công ty xuyên quốc gia (TNCs), lộ trình cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ rào cản phi thuế quan theo quan điểm của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được áp dụng xuyên suốt công trình. Tác giả kết hợp linh hoạt các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh từ các dãy dữ liệu thứ cấp với phương pháp nghiên cứu định tính và điều tra thực tế:

  • Điều tra, khảo sát thực tế tình hình hoạt động của các DNNVV tại nhiều địa phương trên phạm vi cả nước.
  • Tham vấn chuyên sâu ý kiến của các nhà quản trị doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực phát triển DNNVV.

Nguồn dữ liệu của luận án được trích xuất từ các cơ quan có thẩm quyền: Tổng cục Thống kê (GSO), Tổng cục Thuế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), VCCI, Cục Quản lý Kinh doanh Nhỏ Hoa Kỳ (SBA), JICA, Cơ quan Xúc tiến DNNVV Thái Lan (SMEPO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 1 là phần trọng tâm lý thuyết và so sánh quốc tế của luận án, được chia thành ba nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, những vấn đề chung về DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Tác giả phân tích tính tương đối của việc phân loại quy mô doanh nghiệp. Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Dựa vào tiêu chí này, năm 2003, DNNVV chiếm 96,14% tổng số doanh nghiệp theo tiêu chí lao động và chiếm 88,27% theo tiêu chí vốn. Tác giả chỉ ra điểm bất cập: Tiêu chí vốn đăng ký mang tính danh nghĩa, cố định và chênh lệch so với vốn thực tế đưa vào kinh doanh; tiêu chí lao động trung bình chưa phân định giữa lao động thường xuyên và lao động thời vụ. Từ đó, tác giả đề xuất việc xác định DNNVV cần kết hợp cả hai tiêu chí: Doanh số hàng năm và số lượng lao động thường xuyên (làm việc từ 1 năm trở lên).

Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của DNNVV:

  • Điểm mạnh: Dễ khởi sự do vốn ít, diện tích mặt bằng nhỏ, quay vòng vốn nhanh; tính linh hoạt cao, thích ứng nhanh với thị trường ngách; có thế mạnh trong duy trì ngành nghề truyền thống và khai thác tài nguyên, lao động tại chỗ; quan hệ lao động thân thiện, phù hợp văn hóa Á Đông.
  • Điểm yếu: Thiếu nguồn lực cho các dự án quy mô lớn; không có lợi thế kinh tế theo quy mô; phụ thuộc vào doanh nghiệp lớn về vốn, công nghệ và thị trường; rủi ro giải thể cao (kết quả thực nghiệm quốc tế cho thấy tỷ lệ thất bại cao nhất vào năm hoạt động thứ tư; doanh nghiệp do nam giới điều hành có tỷ lệ thất bại cao hơn doanh nghiệp do nữ giới quản lý); gây ra các ngoại lai tiêu cực như ô nhiễm môi trường.

Về vai trò kinh tế - xã hội: DNNVV đóng góp 25%-28% GDP cả nước; thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư; hỗ trợ phân phối và cung ứng bán thành phẩm cho các doanh nghiệp lớn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ; tạo việc làm với chi phí đầu tư thấp; giảm nghèo và đào tạo doanh nhân. Về môi trường thể chế, tác giả khẳng định hệ thống pháp luật thông thoáng và thủ tục hành chính tinh gọn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy khu vực này phát triển.

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế - cơ hội và thách thức: Luận án tóm lược các mốc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:

  • Năm 1986: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI mở đường cho chính sách mở cửa.
  • Năm 1992: Việt Nam trở thành quan sát viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
  • Năm 1995: Trở thành thành viên chính thức của ASEAN.
  • Giai đoạn 1996 - 2006: Thực hiện lộ trình Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
  • Năm 1998: Trở thành thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
  • Năm 2000: Ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA).
  • Năm 2005: Dự kiến hoàn tất đàm phán và gia nhập WTO.

Hội nhập mang lại nhiều cơ hội: Mở rộng dung lượng thị trường từ 80 triệu dân lên quy mô toàn cầu hơn 6 tỉ dân; tạo điều kiện khai thác các thị trường ngách đa dạng; tạo cơ hội tiếp cận nguồn vốn quốc tế qua vay ưu đãi, hợp tác liên doanh hoặc đầu tư trực tiếp; hỗ trợ tiếp cận công nghệ hiện đại thông qua chuyển giao; mở ra cơ hội tham gia chuỗi phân công lao động quốc tế với tư cách là vệ tinh cho các tập đoàn lớn.

Ngược lại, hội nhập đặt ra nhiều thách thức: Trên 87,5% doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng (tương đương khoảng 600.000 USD); trình độ công nghệ lạc hậu, tụt hậu so với Thái Lan khoảng 25 đến 30 năm; chi phí đầu vào cao do sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu (một số ngành lên tới 70%-80%); hạ tầng yếu kém; kỹ năng đàm phán, marketing quốc tế và ngoại ngữ của đội ngũ quản trị còn hạn chế; tính liên kết hiệp hội rất yếu dẫn đến tình trạng xuất khẩu manh mún và bị đối tác nước ngoài ép giá. Hộp thông tin trích dẫn ý kiến của Michael Moore (nguyên Tổng giám đốc WTO tại hội thảo ngày 15/11/2004) nhấn mạnh rằng gia nhập WTO đòi hỏi tính tự chủ, tính minh bạch trong biểu thuế, chống tham nhũng và tôn trọng sở hữu trí tuệ; đồng thời chỉ ra tính phức tạp trong đàm phán nông nghiệp (thỏa hiệp về gạo với Nhật Bản, vấn đề bông và đường với Hoa Kỳ, và kinh nghiệm 15 năm đàm phán của Trung Quốc).

Thứ ba, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam: Luận án phân tích chi tiết chính sách phát triển DNNVV của năm quốc gia và vùng lãnh thổ:

  1. Trung Quốc: Theo Luật Khuyến khích phát triển DNNVV ngày 29/6/2002, tiêu chuẩn chỉ căn cứ vào lao động (doanh nghiệp nhỏ từ 50-100 người, doanh nghiệp vừa từ 101-500 người). Tính đến cuối năm 2003, Trung Quốc có khoảng 3,6 triệu DNNVV, đóng góp 55,6% GDP và giải quyết 70,6% việc làm. Quốc gia này tập trung mở rộng khu vực dịch vụ (riêng phục vụ gia đình và công cộng có thể tạo 11 triệu việc làm) và xúc tiến thành lập cơ quan chuyên trách thuộc Ủy ban Kinh tế Mậu dịch Quốc gia.
  2. Hoa Kỳ: SBA xác định DNNVV là đơn vị kinh doanh có dưới 500 lao động. Năm 2003, kinh doanh nhỏ chiếm trên 99,7% tổng số hãng có thuê nhân công; thu hút 52% lao động khu vực tư nhân; tạo 60-80% việc làm mới; sản xuất 51% sản phẩm khu vực tư nhân; chiếm 47% tổng doanh thu bán hàng, 31% doanh thu xuất khẩu hàng hóa và 97% tổng số các nhà xuất khẩu. Chính sách hỗ trợ dựa trên cải cách pháp lý, tài chính (năm 1997 có 125 chương trình trị giá 75 tỉ USD; năm 1999 có khoảng 200 chương trình cấp liên bang), chuyển giao công nghệ qua vườn ươm tại 50 tiểu bang, mạng lưới trung tâm phát triển kinh doanh và hơn 100 văn phòng xúc tiến xuất khẩu.
  3. Nhật Bản: Luật Cơ bản về DNNVV sửa đổi ngày 3/12/1999 nâng giới hạn vốn tối đa. Năm 2000, Nhật Bản có trên 5 triệu DNNVV (khoảng 4,48 triệu doanh nghiệp nhỏ), chiếm 99,7% tổng số doanh nghiệp, sử dụng hơn 40 triệu lao động (chiếm hơn 70%) và tạo ra hơn 40% doanh thu toàn ngành. Các định chế tài chính công (Công ty Đầu tư kinh doanh nhỏ, Ngân hàng Hợp tác Trung ương về thương mại và công nghiệp, Công ty Đầu tư mạo hiểm quốc gia) cùng kế hoạch cho vay Marukei (không cần thế chấp, bảo lãnh) và hệ thống bảo lãnh tín dụng từ năm 1998 là các công cụ hỗ trợ trọng yếu.

Bảng: Tiêu chuẩn DNNVV của Nhật Bản theo Luật sửa đổi năm 1999

Lĩnh vực hoạt động Số lao động tối đa (người) Số vốn tối đa (triệu Yên)
Sản xuất 300 300
Bán buôn 100 100
Bán lẻ 50 50
Dịch vụ 100 50
  1. Đài Loan: Khung pháp lý về DNNVV được quy định từ năm 1967. Trong chế tạo, xây dựng, khai mỏ: vốn hoạt động dưới 80 triệu NT$ (khoảng 2,3 triệu USD) hoặc lao động dưới 200 người. Trong các ngành thương mại, vận tải, dịch vụ: doanh thu hàng năm dưới 100 triệu NT$ (khoảng 2,9 triệu USD) hoặc lao động dưới 50 người. Đài Loan đưa điều khoản DNNVV vào Hiến pháp năm 1997, thành lập "Nhóm đặc trách thúc đẩy DNNVV", vận hành Quỹ Bảo lãnh tín dụng (thành lập từ năm 1974, bảo lãnh trên 60 tỉ USD), Quỹ Phát triển DNNVV (thành lập năm 1989, vốn 400 triệu USD), 10 hệ thống hướng dẫn (năm 2000 hỗ trợ hơn 1.000 doanh nghiệp) và hệ thống liên kết trung tâm - vệ tinh (CSPS) từ năm 1984.
  2. Thái Lan: Ban hành tiêu chí định hướng ngày 22/12/1998 dựa trên tổng tài sản.

Bảng: Tiêu chuẩn DNNVV của Thái Lan theo giá trị tổng tài sản (1998)

Khu vực Doanh nghiệp vừa (triệu baht) Doanh nghiệp nhỏ (triệu baht)
Sản xuất Dưới 200 Dưới 50
Thương mại dịch vụ Dưới 200 Dưới 50
Bán buôn Dưới 100 Dưới 50
Bán lẻ Dưới 60 Dưới 30

Thái Lan thành lập Ủy ban Khuyến khích DNNVV, ban hành "Kế hoạch lớn phát triển DNNVV" gồm 7 chiến lược, xác định 10 ngành trọng điểm (chia thành 2 nhóm: nhóm 1 gồm lương thực/thức ăn gia súc, dệt may, sản phẩm nhựa, thiết bị điện/điện tử, ô tô/phụ tùng; nhóm 2 gồm da/giày dép, sản phẩm gỗ, cao su, gốm/kính, đá quý/trang sức) và chương trình hành động 18 biện pháp.

Từ kinh nghiệm quốc tế, luận án rút ra 4 bài học cho Việt Nam: Xây dựng hệ thống pháp luật cởi mở, bình đẳng, giảm thủ tục phiền hà; thiết lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ thống nhất từ trung ương đến địa phương; lồng ghép chiến lược phát triển DNNVV vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội; phát triển thầu phụ công nghiệp, xác định ngành ưu tiên xuất khẩu và tăng cường năng lực nội tại cho doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Theo cấu trúc tổng thể và các kết quả nghiên cứu được công bố trong luận án, Chương 2 triển khai đánh giá thực trạng trên cơ sở số liệu thống kê và kết quả khảo sát thực tế tại các địa phương trên toàn quốc:

  • Phân tích cơ cấu và quy mô: Đánh giá chi tiết sự phân bổ của DNNVV theo vùng kinh tế, ngành nghề và hình thức sở hữu. Tác giả chỉ ra sự mất cân đối khi doanh nghiệp tập trung nhiều ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ và các vùng đô thị lớn; tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sản xuất công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ còn khiêm tốn.
  • Đánh giá môi trường thể chế thực tế: Phân tích hiệu lực thi hành của Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Mặc dù đã có những bước tiến lớn về đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, môi trường thể chế vẫn bộc lộ sự bất bình đẳng giữa khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trong việc tiếp cận đất đai, nguồn vốn tín dụng ngân hàng và các dự án công.
  • Thực trạng năng lực cạnh tranh: Khảo sát làm rõ tình trạng thiếu vốn thường xuyên, công nghệ máy móc cũ nát dẫn đến năng suất lao động thấp và giá thành cao. Khả năng liên kết giữa các DNNVV với nhau và liên kết giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn còn rời rạc, chưa hình thành mạng lưới sản xuất phụ trợ bài bản.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Dựa trên cơ sở lý luận của Chương 1 và kết quả đánh giá thực trạng tại Chương 2, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Hoàn thiện môi trường pháp lý và thể chế: Tiếp tục sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa các thành phần kinh tế; hoàn thiện các quy định về đăng ký kinh doanh, thuế và hải quan theo chuẩn mực của WTO.
  • Đổi mới tiêu chí phân loại DNNVV: Cụ thể hóa tiêu chí theo hướng kết hợp doanh số hàng năm và số lao động làm việc thường xuyên thay cho tiêu chí vốn đăng ký nhằm bảo đảm tính chính xác trong thống kê và phân bổ chính sách hỗ trợ.
  • Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính và vốn: Xây dựng hệ thống các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV theo kinh nghiệm của Đài Loan và Nhật Bản; đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn tín dụng và vốn đầu tư mạo hiểm cho các dự án đổi mới công nghệ.
  • Nâng cao năng lực công nghệ và xúc tiến thị trường: Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hình thành các vườn ươm doanh nghiệp; hỗ trợ thông tin thương mại, xúc tiến xuất khẩu và phát triển thương mại điện tử; nâng cao năng lực cho các hiệp hội ngành nghề để khắc phục sự cạnh tranh không lành mạnh và liên kết chuỗi giá trị.
  • Phát triển liên kết doanh nghiệp trung tâm - vệ tinh: Đưa ra chính sách khuyến khích các doanh nghiệp lớn ký hợp đồng thầu phụ với DNNVV trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như cơ khí, dệt may, điện tử.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp mới cụ thể về mặt học thuật và thực tiễn:

  1. Đóng góp về lý luận: Đề xuất quan điểm mới về tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam. Tác giả chứng minh rằng việc áp dụng tiêu chí vốn đăng ký kinh doanh và lao động bình quân chung chung theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP tạo ra độ vênh trong thống kê và không phản ánh đúng quy mô thực tế của doanh nghiệp. Luận án đề xuất tiêu chí khoa học hơn là kết hợp giữa doanh số hàng năm và số lượng lao động thường xuyên (làm việc từ 1 năm trở lên). Bên cạnh đó, luận án đã hệ thống hóa lý luận về vai trò, điểm mạnh, điểm yếu của DNNVV trong điều kiện mở cửa và đúc kết kinh nghiệm quốc tế có giá trị đối sánh cao.
  2. Đóng góp về thực tiễn: Đánh giá thực trạng hoạt động của DNNVV và môi trường thể chế tại Việt Nam thông qua các cuộc điều tra, khảo sát thực tế tại các địa phương trên toàn quốc. Luận án chỉ rõ những rào cản về vốn, công nghệ và chi phí đầu vào mà doanh nghiệp đang gặp phải. Đồng thời, công trình đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể, khả thi nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh cơ chế hỗ trợ và định hướng cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh khi Việt Nam bước vào WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án có các giới hạn xác định:

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ mốc Đổi mới năm 1987, đặc biệt là giai đoạn sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2000, do đó không phân tích tiến trình lịch sử phát triển của DNNVV ở các giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đó.
  • Về nội dung, nghiên cứu chỉ khu biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mà không mở rộng sang các điều kiện hội nhập về văn hóa hay xã hội.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của việc gia nhập WTO đối với khu vực DNNVV sau khi các cam kết mở cửa thị trường hoàn tất.
  • Thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn về hiệu quả vận hành của các mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng và hệ thống doanh nghiệp trung tâm - vệ tinh tại các cụm ngành công nghiệp cụ thể ở Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan của Chính phủ trong việc rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật (như sửa đổi Nghị định số 90/2001/NĐ-CP), hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng, đất đai và xúc tiến thương mại cho doanh nghiệp.
  • Đối với các viện nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh kinh tế: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện về khung lý thuyết DNNVV, hệ thống chỉ tiêu phân loại định lượng tại nhiều quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan), cùng phương pháp luận khảo sát thực tế về thể chế kinh tế.
  • Đối với các hiệp hội ngành nghề và lãnh đạo doanh nghiệp: Giúp các nhà quản trị nhận diện rõ ràng các cơ hội thị trường và các điểm nghẽn nội tại (công nghệ, chi phí trung gian, vốn), từ đó xây dựng chiến lược liên kết hiệp hội, tìm kiếm thị trường ngách và tham gia làm vệ tinh sản xuất cho các tập đoàn đa quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chỉ ra điểm bất cập nào của tiêu chí xác định DNNVV theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP và đề xuất thay đổi ra sao?
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP dùng hai tiêu chí: Vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Bất cập là vốn đăng ký cố định khi thành lập và thường khác xa vốn thực tế kinh doanh; chỉ tiêu lao động trung bình không phân biệt giữa lao động thường xuyên và lao động mùa vụ. Hơn nữa, việc sử dụng hai tiêu chí này làm vênh số liệu thống kê (năm 2003, DNNVV chiếm 96,14% theo tiêu chí lao động nhưng chỉ chiếm 88,27% theo vốn đăng ký). Luận án đề xuất tiêu chí xác định DNNVV cần dựa trên doanh số hàng năm và số lao động thường xuyên làm việc từ 1 năm trở lên.

2. Luận án đưa ra những con số thống kê nào phản ánh vai trò của DNNVV đối với kinh tế Việt Nam?
Trong văn bản, DNNVV chiếm hơn 96% tổng số doanh nghiệp của cả nước, sử dụng gần một nửa số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp, và đóng góp từ 25% đến 28% GDP của cả nước.

3. Tiêu chí xác định DNNVV của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan khác nhau như thế nào theo nghiên cứu của luận án?
Hoa Kỳ áp dụng một tiêu chí chung là dưới 500 lao động. Trung Quốc chỉ dựa vào lao động: Doanh nghiệp nhỏ từ 50-100 người, doanh nghiệp vừa từ 101-500 người. Nhật Bản phân theo 4 ngành kết hợp cả lao động và vốn (ngành sản xuất tối đa 300 lao động và 300 triệu Yên; bán lẻ tối đa 50 lao động và 50 triệu Yên). Đài Loan phân theo ngành: Ngành chế tạo, xây dựng, khai mỏ có vốn dưới 80 triệu NT$ hoặc dưới 200 lao động; các ngành thương mại dịch vụ có doanh thu dưới 100 triệu NT$ hoặc dưới 50 lao động.

4. Những thách thức lớn nhất của DNNVV Việt Nam trong hội nhập quốc tế được luận án nêu ra là gì?
Quy mô vốn nhỏ bé (trên 87,5% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỉ đồng, tương đương khoảng 600.000 USD); công nghệ lạc hậu, tụt hậu so với Thái Lan khoảng 25 đến 30 năm; chi phí đầu vào cao do sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu (có ngành 70%-80%); hạ tầng yếu; kinh nghiệm thương trường quốc tế hạn chế; và tính liên kết thành hiệp hội rất yếu, dẫn đến xuất khẩu manh mún và bị ép giá.

5. Nhận định của nguyên Tổng giám đốc WTO Michael Moore trong tài liệu luận án nhấn mạnh điều gì?
Michael Moore nhấn mạnh việc gia nhập WTO đòi hỏi quốc gia phải luôn đặt tính tự chủ lên hàng đầu; phải bảo đảm tính minh bạch trong biểu thuế và hải quan, kiên quyết chống tham nhũng, tôn trọng sở hữu trí tuệ; đồng thời chỉ ra đàm phán nông nghiệp sẽ rất phức tạp (đặc biệt là thỏa hiệp về gạo với Nhật Bản, bông và đường với Hoa Kỳ).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế" là một công trình nghiên cứu hệ thống về sự thích ứng của khu vực doanh nghiệp dân doanh trước thềm gia nhập WTO. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý thuyết, điểm mạnh, điểm yếu và các cơ hội, thách thức của DNNVV, đồng thời chỉ ra bất cập trong tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm phát triển DNNVV của các quốc gia và vùng lãnh thổ như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan, luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc cho Việt Nam. Các giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào hoàn thiện thể chế, đổi mới chính sách hỗ trợ tín dụng, công nghệ và thúc đẩy liên kết doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.