CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE DICH VU NGAN HANG HIEN DAI 1. CO SO LY LUAN VE DICH VU NGAN HANG HIEN DAI 1.Khái niệm dịch vụ ngân hàng. Cho đến nay, khái niệm dịch vụ NH chưa được định nghĩa một cách cụ thẻ, mỗi quốc gia đều có những cách hiểu khác nhau về dịch vụ NH. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (G475) của WTO cũng không nêu khái niệm dịch vụ mà thay vào đó là liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn (xem phụ lục).
Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành nhỏ (55 phân ngành) và mỗi phân ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thê chỉ tiết (155 phân ngành). Các dịch vụ NH, theo GATS, là: nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thẻ, séc,., bảo lãnh và cam kết, mua bản các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn, trung gian va hỗ trợ về tài chính. Đây là những cơ sở thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán nhằm mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế. Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có su minh định rõ ràng về dịch vụ NH.
Có không ít quan điểm cho rằng: dịch vụ NH không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ NH theo chức năng của một trung gian tài chính (như cho vay, huy động tiền gửi.) mà chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ NH. Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động NH phục vụ cho DN và công chúng đều là dịch vụ NH. Theo Luật các TCTD do NHNN Việt Nam ban hành, dịch vụ NH cũng không được định nghĩa và giải thích cụ thể. Tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH bao hàm cả 3 nội dung : nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán, nhưng đâu là kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ NH thì vẫn chưa được phân định rõ ràng.
Hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm cũng như danh mục các chỉ tiêu về dịch vụ NH trong các văn bản luật. Tuy nhiên Hiệp định thương mại Việt Nam — Hoa Ky va Hiép dinh khung ASEAN vé dich vu (AFAS) da duoc xay dung trén cac nguyên tắc chuẩn mực của WTO nên hầu như các nội dung và phương pháp phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ NH) tương tự như WTO. Kết hợp với thực tẾ cung cấp các dịch vụ NH tại các NHTM Việt Nam, tác giả thống nhất cách hiểu về dịch vụ NH như sau: Dịch vụ NH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.của hệ thống NH cung ứng cho nền kinh tế. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng hiện đại Với một ngân hàng hiện đại thì việc cung cấp kịp thời các dịch vụ tiện ích, đa dạng là điều kiện cần thiết để nang cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.
Các dịch vụ đó có thể chia làm hai nhóm: các dịch vụ ngân hàng truyền thống và các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Các dịch vụ ngân hàng truyền thống có quá trình hình thành và phát triển lâu dài như cho vay thương mại, huy động vốn, chiết khấu thương phiếu, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các dịch vụ uỷ thác,. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại thường là các dịch vụ gan lién với sự phát triển, tiến bộ của công nghệ hiện đại như các dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, các dịch vụ tư vấn và môi giới tài chính, bảo hiểm. Sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại không hoàn toàn là sự thay thế các sản phẩm truyền thống mà nó mang tính kế thừa và phát triển, với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại thì những quan hệ giao dịch trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng ngày cảng thu hẹp lại và thay thế vào đó là các giao dịch ngân hàng tại nhà (Home Banking), ngân hàng qua Internet (Internet Banking), ngân hàng qua điện thoại (Phone/Mobile Banking) phát triển mạnh mẽ hơn.
Trong một nên kinh tế năng động, một xã hội phát triển và thịnh vượng thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại là rất lớn. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam có thể thấy các nhu cầu này chưa nhiều, song trong định hướng lâu dài thì nhu cầu này sẽ không ngừng tăng lên theo tiễn trình phát triển kinh tế - xã hội, doanh sô và lợi nhuận của mảng hoạt động này sẽ dân chiếm tỷ trọng đáng kể và trở nên quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Trong thời gian gần đây, thuật ngũ hiện đại hóa ngân hàng bắt đầu xuất hiện với ý nghĩa là tìm cách “thiết lập một hệ thống tập trung hóa và tự động hóa trong các giao dịch với mục đích lấy khách hàng là trung tâm”. Theo ngôn ngữ hội nhập thì hiện đại hóa ngân hàng giống như việc các doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng các tiến bộ công nghệ để tăng năng suất tạo năng lực cạnh tranh trên thương trường, hệ thống ngân hàng cũng tương tự như thế.
Trên thế giới các ngân hàng luôn luôn lấy khách hàng làm trung tâm, và tìm mọi cách thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách hàng, qua đó dé đạt hiệu quả kinh doanh cao nhắt. Điểm chung nhất các hệ thống này là được xử lý hoàn toàn tự động, dựa trên nền tảng thông tin tập trung thống nhất, nhưng có phân chia trách nhiệm rõ ràng và thiết lập được hệ thống xử lý đữ liệu online trên toàn hệ thống, giúp giao dich viên ở bất kỳ nơi nào cũng có thé truy suất đữ liệu từ hệ thống đữ liệu của trung tâm. CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI CHỦ YẾU 1.Thanh toán trong nước Với việc cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, NHTM mang lại cho các cá nhân và DN nhiều tiện ích trong việc thanh toán. Nhờ lượng khách hàng này, NHTM có thể tăng thêm thu nhập từ thu phí dịch vụ và là cơ sở để phát triển các dịch vụ khác.
Điền hình nhất là thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, các NH có cơ hội cung cấp dich vụ thẻ cho các cá nhân. Doanh số thanh toán liên ngân hàng của các NHTM ngày càng tăng là do kênh chuyển tiền với hệ thống thanh toán điện tử liên NH (IBPS) của NHNN. Sự phát triển kênh chuyển tiền IBPS đã dần dần thay thế kênh chuyền tiền bù trừ qua hệ thống NHNN nên doanh số thanh toán bù trừ giảm dân. Thanh toán quốc tế Dịch vụ này áp dụng cho các DN XNK khi thanh toán tiền hàng với bên bán hoặc đòi tiền bên mua.
Các giao dịch thanh toán quốc tế thường được thực hiện thông qua các phương thức chủ yếu như tín dụng chứng từ (L/C), nhờ thu, chuyén tién. Việc thanh toán quốc tế của các NHTM ngày càng xử ly chính xác nhanh chóng và an toàn là do các NHTM đã liên két với hệ thống thanh toán điện tử quốc tế của Hiệp hội Viễn thông Tài chỉnh Liên ngân hàng toàn thê giới - SWIFT. Dịch vụ thẻ Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
Thẻ ngân hàng dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Thẻ ATM cho phép chủ thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy rút tiền tự động ATM, bao gồm: xem số dư tài khoản, chuyên khoản, rút tiền, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo. Hệ thống máy ATM hiện đại còn cho phép chủ thẻ gửi tiền vào tài khoản của mình ngay tại các máy ATM và tự mình thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác.
Dịch vụ ngân hang dién ti ( E-Banking ) Trong những năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ thông tin, các sản phẩm dịch vụ NH dần dan được hiện đại hóa, từ đó cho ra đời các sản phẩm NH điện tử, nhiều tiện ích, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các cá nhân và DN. Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách hàng có thê truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập các thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng đó, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Đây là một khái niệm rộng dựa trên khả năng của từng ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ tin học vào các sản phẩm dịch vụ của mình. Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng vi tính của mình với NH.
Các sản phẩm dịch vụ NH điện tử, có thể kể đến như: 1. Phone banking: Khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản; kiểm tra các giao dịch gần nhất: nghe thông tin về tỷ giá và lãi suất; yêu cầu NH gửi fax các bảng sao kê, tỷ giá hoặc lãi suất cho khách hàng. Khách hàng sử dụng dịch vụ này thông qua máy điện thoại. Internet banking Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin về sản phẩm và dịch vụ của NH; truy cập thông tin về tài khoản cá nhân như số dư, các giao dịch của tài khoản trong từng tháng.
Khách hàng sử dụng địch vụ này phải kết nối Internet. Dịch vụ Internet Banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy cập thông tin cần thiết. Thông tin rất phong phú, đến từng chỉ tiết giao dịch của khách hàng cũng như thông tin khác về ngân hàng.