CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về dịch vụ doanh nghiệp 1.1 Khái niệm dịch vụ Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh luôn là vấn đề được các doanh nghiệp đề cao, không chỉ đơn thuần là các sản phẩm vật chất cụ thể (hàng hóa) mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Khái niệm dịch vụ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau do sự đa dạng về chủng loại và tính vô hình của nó. Chính vì vậy, cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm thật sự thống nhất về dịch vụ: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thì thường định nghĩa dịch vụ gắn liền với quá trình sản xuất, C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi trảy, thông suốt và liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển. Qua định nghĩa này, C.Mác đã chỉ ra được nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, nền kinh tế thị trường tại các nước tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh khiến cho dịch vụ phát triển khá nhanh và đã trở thành một ngành quan trọng của nền kinh tế các quốc gia.
Đây cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành kinh tế - xã hội như: kinh tế học, xã hội học, khoa học quản lý, … Lúc này, khái niệm dịch vụ cũng được hiểu theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, phương pháp luận kinh tế của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử, đối tượng và mục đích nghiên cứu của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau. Cụ thể là: 8 Cách hiểu thứ nhất: Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là một ngành kinh tế thứ 3 ngoài công nghiệp và nông nghiệp. Có nghĩa là những lĩnh vực, hoạt động nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp như hàng không, thông tin… đều được coi là dịch vụ. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán.
Cách hiểu thứ hai: Theo nghĩa rộng, khái niệm dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của nó không tồn tại dưới dạng vật thể. Điều này có nghĩa là hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, từng khu vực cũng như toàn cầu. Ngày nay, dịch vụ không chỉ bao gồm các lĩnh vực truyền thống như: Vận tải, giao nhận, truyền thông, ngân hàng, … mà còn bao gồm những lĩnh vực mới khác như: dịch vụ văn hóa, dịch vụ hành chính, dịch vụ tư vấn pháp luật, tư vấn hôn nhân… Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là một công việc đáp ứng một nhu cầu nào đó cho con người hoặc cho xã hội như vận chuyển, cung cấp, sửa chữa, bảo dưỡng các máy móc thiết bị, công trình. Một cách tiếp cận khác thì: dịch vụ là một sản phẩm hay lợi ích cung ứng qua trao đổi chủ yếu là vô hình nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, và không dẫn đến quyền chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất, chẳng hạn đi khám bệnh, đi du lịch bằng máy bay, xin tư vấn pháp luật… đều được coi là dịch vụ. Mặc dù định nghĩa chưa đạt được tính thống nhất nhưng tựu chung lại dịch vụ là một loại sản phẩm, chủ yếu là vô hình, được cung cấp nhằm thỏa mãn nhu 9 cầu của người sử dụng dịch vụ trong đó người sử dụng dịch vụ có thể là cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp. Đặc điểm dịch vụ của doanh nghiệp Dich vụ của doanh nghiệp gồm 4 đặc điểm chính: - Tính vô hình: Tính vô hình hay còn gọi là tính phi vật chất. Các sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất hay vật phẩm cụ thể, người ta không thể nhìn thấy hay sờ mó thấy dịch vụ trước khi tiêu dùng.
Chính vì vậy trong công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô dịch vụ trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với hàng hóa. Bên cạnh đó, vì không tồn tại duới dạng vật thể nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ. Chủ thể quan hệ dịch vụ có một số khác biệt so với quan hệ hàng hóa thông thường. Đó là quan hệ dịch vụ, chủ thể không quan tâm đến lợi ích sở hữu dịch vụ, không định đoạt dịch vụ mà chỉ quan tâm tới quyền sử dụng và chất lượng dịch vụ.
- Tính không thể tách rời: Xét dưới góc độ kinh tế, tính cách không tách rời được hiểu là việc sản xuất, cung ứng, lưu thông, phân phối, tiêu dùng dịch vụ là một quá trình liên hoàn, không có độ trễ về mặt thời gian giữa các công đoạn, hay nói cách khác, quá trình sản xuất dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Ví dụ, người giáo viên không thể dạy học nếu không có học sinh, bác sỹ không thể khám chữa bệnh nếu không có bệnh nhân. Với đặc điểm này, dịch vụ khác hàng hóa ở chỗ sản xuất hàng hóa tách rời với quá trình lưu thông và tiêu dùng nên khi được sản xuất ra, hàng hóa có thể lưu kho bãi và không nhất thiết phải tham gia ngay vào quá trình lưu thông, tiêu dùng. Sau quá trình tiêu dùng, các giá trị và giá trị sử dụng của dịch vụ được chuyển tải vào các giá trị vật chất khác, còn bản thân dịch vụ không tồn tại.
- Tính không đồng nhất: Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hóa. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất 10 lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kĩ năng, thái độ người cung cấp dịch vụ. Sức khỏe, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau.
Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng dịch vụ. - Tính không lưu trữ: Do quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và cất trữ, lưu kho bãi rồi mới mang ra tiêu dùng được. Đồng thời sản phẩm của dịch vụ là vô hình nên không lưu trữ được và không tồn tại khái niệm tồn kho hay dự trữ sản phẩm trong hoạt động cung ứng dịch vụ.3 Phân loại dịch vụ của doanh nghiệp Có rất nhiều cách phân loại dịch vụ quốc tế tùy thuộc vào những cách phân loại khác nhau 1.1 Căn cứ vào tính chất thương mại của dịch vụ Chia thành hai loại: - Dịch vụ mang tính chất thương mại: là những dịch vụ được thực hiện, cung cấp nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận.
Ví dụ: dịch vụ quảng cáo, dịch vụ tiếp thị, môi giới - Dịch vụ không mang tính chất thương mại (dịch vụ phi thương mại): là những dịch vụ được cung cấp không nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận như các dịch vụ công cộng (dịch vụ y tế cộng đồng, giáo dục, chăm sóc người già…) thường do các đoàn thể, tổ chức xã hội phi lợi nhuận hoặc chính phủ cung 1.2 Căn cứ vào mục tiêu của dịch vụ - Dịch vụ phân phối: vận tải, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, môi giới 11 - Dịch vụ sản xuất: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán - Dịch vụ xã hội: dịch vụ sức khỏe, y tế, giáo dục, bưu điện, viễn thông… - Dịch vụ cá nhân: dịch vụ sửa chữa, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ giải trí, văn hóa, du lịch… 1. Căn cứ vào quá trình mua bán hàng hóa - Dịch vụ phân phối và dịch vụ sản xuất còn được gọi là “dịch vụ về hàng hóa” nghĩa là các hoạt động này luôn gắn chặt với việc sản xuất, trao đổi, buôn bán các sản phẩm, hàng hóa phục vụ cho việc cung cấp đầu vào sản xuất, phân phối tiêu thụ sản phẩm. Nhóm dịch vụ này còn có tên gọi khác là dịch vụ trung - Dịch vụ xã hội và dịch vụ cá nhân được gọi là “dịch vụ tiêu dùng” là các dịch vụ được tiêu dùng trực tiếp bởi các tổ chức, cá nhân thường không liên quan đến thương mại hàng hóa nhưng vẫn mang tính chất dịch vụ thương mại. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ cuối cùng.
Phân loại dịch vụ theo WTO Về cơ bản cách phân loại dịch vụ của WTO dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ khu lĩnh vực thương mại dịch vụ được WTO chia ra 12 ngành, mỗi ngành lại chia ra các phân ngành với các hoạt động dịch vụ cụ thể. So với các cách phân loại khác, cách phân loại của WTO rất thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán về mở cửa thị trường quốc tế. Tổ chức thương mại thế giới đã quy định các phương thức cung ứng dịch vụ và phân loại bao gồm các ngành và các phân ngành như sau: - Nhóm ngành dịch vụ về kinh doanh + Dịch vụ chuyên ngành: pháp lý, kế toán và kiểm toán, thuế, kiến trúc sư, công trình tích hợp 12 + Dịch vụ công nghệ máy tính: thiết lập phần mềm và phần cứng máy tính, dịch vụ áp dụng phần mềm, cơ sở dữ liệu và dịch vụ khác liên quan + Dịch vụ nghiên cứu và triển khai: về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đa ngành học luật - Nhóm ngành dịch vụ về truyền thông + Dịch vụ bưu điện + Dịch vụ văn thư, đưa thư + Dịch vụ viễn thông: dịch vụ điện thoại, telex, thư tín dụng + Dịch vụ nghe nhìn - Nhóm ngành dịch vụ về xây dựng công trình + Dịch vụ xây dựng công trình cao ốc + Dịch vụ lắp ráp, lắp đặt + Dịch vụ hoàn thiện và kết thúc xây dựng + Dịch vụ xây dựng nhà ở - Nhóm ngành dịch vụ về tài chính + Dịch vụ liên quan đến bảo hiểm + Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác - Nhóm ngành dịch vụ về văn hóa, giải trí + Dịch vụ về giải trí (nhà hát, ban nhạc…) + Dịch vụ thư viện, lưu trữ, bảo tàng, dịch vụ văn hóa 1.