Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Hƣng Yên giai đoạn 2007 - 2013 Chương 3: Những định hƣớng và giải pháp cơ bản phát triển công nghiệp của tỉnh Hƣng Yên trong giai đoạn hiện nay. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRONG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Ở các nƣớc đang phát triển, công nghiệp là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong cơ cấu: công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ của nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp phát triển thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất, mở rộng thị trƣờng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và quá trình đô thị hóa.
Đối với Việt Nam, phát triển công nghiệp là yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nƣớc Việt Nam dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Công nghiệp và vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm và đặc điểm của công nghiệp. Khái niệm công nghiệp.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư: Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa hoạc kỹ thuật. Theo Từ điển tiếng Việt: Công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lƣợng và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay không vật thành sản phẩm. Ngoài ra, khi đề cập đến công nghiệp không thể không nhắc đến công nghiệp sửa chữa - ngành công nghiệp xuất hiện sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm đƣợc tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt Từ kết quả trên ta thấy, công nghiệp bao gồm ba hoạt động chủ yếu bắt đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật), tách đối tƣợng lao động ra khỏi thiên nhiên; hoạt động 6 sản xuất và chế biến các tài nguyên có đƣợc từ khai thác, làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu ban đầu để biến chúng thành những sản phẩm tƣơng ứng hoặc nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản suất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của con ngƣời; hoạt động sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm đƣợc tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong quá trình sinh hoạt [39, tr. Trong ba hoạt động trên, hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình công nghiệp, tách đối tƣợng lao động ra khỏi môi trƣờng tự nhiên. Hoạt động chế biến là hoạt động thứ hai có đặc điểm làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu nguyên thủy và có thể tạo ra các sản phẩm tƣơng ứng hoặc có thể từ nhiều loại nguyên liệu khác để sản suất ra một sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt hoặc sản suất. Hoạt động sửa chữa là hoạt động thứ ba, là hoạt đông không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nhằm khôi phục, kéo dài thời gian sử dụng các thiết bị, máy móc, tƣ liệu phục vụ lao động sản xuất và các sản phẩm dùng trong sinh hoạt; công nghiệp sủa chữa là ngành công nghiệp có sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Đặc điểm Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, là một hệ thống bao gồm nhiều ngành sản xuất chuyên môn hóa, hợp thành từ những đơn vị sản sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau. Với tƣ cách là sản xuất vật chất, công nghiệp khác các ngành sản xuất vật chất khác ở các đặc điểm về mặt kỹ thuật - sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất Đối tƣợng lao động trong sản xuất công nghiệp rất đa dạng. Các mỏ khoáng sản nằm sâu trong lòng đất hay dƣới đáy đại dƣơng là đối tƣợng của ngành công nghiệp khai thác mỏ; các nguyên liệu, nhiên liệu từ công nghiệp khai khoáng, các nguyên liệu động thực vật từ các ngành nông, lâm, thủy sản là đối tƣợng của công nghiệp chế biến; năng lƣợng mặt trời, sức gió, sức nƣớc thủy triều… cung cấp năng lƣợng cho sản xuất điện năng. Các chất phế thải từ công nghiệp, từ sinh hoạt của con ngƣời và từ hoạt động y tế cũng là đối tƣợng của sản xuất công nghiệp… 7 Công nghệ sản xuất đƣợc sử dụng trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phƣơng pháp cơ lý hóa, để biến đổi các nguyên liệu ban đầu thành các sản phẩm trung gian cho đến các sản phẩm cuối cùng khác nhau về chất so với đặc tính ban đầu của chúng.
Đặc biệt là quy trình sản xuất công nghiệp có thể phân chia thành các công đoạn khác nhau để thực hiện chuyên môn hóa sản xuất Sản phẩm công nghiệp do con ngƣời sáng tạo ra có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu của sản xuất và đời sống. Về mặt kỹ thuật - sản xuất công nghiệp đƣợc thể hiện ở những khía cạnh khác nhau: Đặc trƣng về công nghệ sản xuất, về sự biến đổi của các đối tƣợng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất, là hoạt động chủ yếu tạo ra các sản phẩm thực hiện các chức năng là các tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu lao động treong các ngành kinh tế (đặc trƣng này quy định vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân). Đặc trƣng về mặt kỹ thuật - sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình sản xuất và chế biến, ứng dụng khoa học – công nghệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguyên liệu. Về mặt kinh tế - xã hội: công nghiệp thể hiện là ngành có điều kiện phát triển về mặt tổ chức.
Lực lƣợng sản xuất trong công nghiệp có thể phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ đó quan hệ sản xuất tiên tiến hơn, đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao; phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa ở trình độ cao. Đặc trƣng này có ý nghĩa hết sức thiết thực trong sản xuất trong việc phát huy vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế 1. Phân loại - Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: ngƣời ta có thể chia công nghiệp thành công nghiệp sản xuất tƣ liệu tiêu dùng (công nghiệp nhẹ) và công nghiệp sản xuất tƣ liệu sản xuất (công nghiệp nặng). Trong đó, công nghiệp nặng là lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều tƣ bản, đối ngƣợc với công nghiệp nhẹ là lĩnh vực thƣờng sử dụng nhiều lao động hơn; công nghiệp nặng không dễ dàng tái phân bố nhƣ công nghiệp nhẹ vì nhiều tác động đến môi trƣờng và chi phí đầu tƣ nhiều hơn; công nghiệp nặng có thể đƣợc hiểu là ngành mà sản phẩm dùng để cung cấp cho các 8 ngành công nghiệp khác.
Ví dụ, đầu ra của các xƣởng thép, nhà máy hóa chất là đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ hoặc bán buôn khác nhiều hơn là bán lẻ đến tay ngƣời tiêu dùng. Công nghiệp nhẹ là ngành công nghiệp ít tập trung tƣ bản hơn công nghiệp nặng, và thiên về cung cấp hàng hóa tiêu dùng hơn là phục vụ các doanh nghiệp (có nghĩa là sản phẩm đƣợc sản xuất cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng hơn là sản xuất để làm đầu vào cho một quá trình sản xuất khác). Các cơ sở công nghiệp nhẹ thƣờng ít gây tác động môi trƣờng hơn công nghiệp nặng và vì thế chúng có thể đƣợc bố trí gần khu dân cƣ Đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam việc phân chia này có ý nghĩa quan trọng để tính tỷ trọng nhập khẩu tƣ liệu sản xuất so với tƣ liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu. - Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: Dựa vào đặc điểm này ngƣời ta chia công nghiệp thành 2 loại: công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Việc phân chia này có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp. - Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất: ngƣời ta chia công nghiệp thành những ngành có đặc trƣng kỹ thuật – công nghệ, hoặc cùng phƣơng pháp công nghệ, hoặc sản xuất có dụng cụ tƣơng tự nhau. - Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lƣợng, vv…. - Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: ngƣời ta chia công nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Việc phân chia này có tác dụng xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lƣợc chung của từng quốc gia. Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân - Vai trò của công nghiệp đối với quá trình CNH, HĐH đất nước Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất tạo ra tƣ liệu tiêu dùng và tƣ liệu sản xuất, trong đó trình độ phát triển công nghiệp là một trong những tiêu chí để đánh trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia 9 Công nghiệp tăng trƣởng làm cho tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế ngày càng gia tăng, trình độ phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng trở nên sâu sắc, nhiều ngành nghề mới xuất hiện và tăng trƣởng nhanh, sự thay đổi về công nghệ cũng diễn ra thƣờng xuyên hơn. Những thay đổi đó đã làm cho CNH, HĐH của đất nƣớc ngày càng đạt trình độ cao hơn - Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp, dịch vụ phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đối với nông nghiệp, công nghiệp cung cấp cho nông nghiệp những yếu tố đầu vào quan trọng nhƣ phân bón hóa học, thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu bệnh, máy móc, phƣơng tiện vận chuyển làm tăng năng suất.