Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÔNG THÔN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm nông thôn và đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng 1. Khái niệm nông thôn Trong tiến trình phát triển của mình, các quốc gia trên thế giới đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn. Khi nghiên cứu về nông thôn và thành thị các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như: thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội.
Trong lý thuyết của xã hội học nông thôn - đô thị, sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và thành thị được thể hiện qua các tiêu chí như sau: “Sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, về quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng” [10, tr. Hiện nay, trên thế giới chưa đưa ra được một định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, bởi mỗi nhà nghiên cứu, học giả lại đưa ra những quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị.
Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, nên theo quan điểm này vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Một quan điểm khác cho rằng vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nguồn sống, thu nhập của cư dân trong vùng chủ yếu là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc và trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế cho từng nền kinh tế. Hiện nay, đối với những nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, nông thôn đang chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ được xây dựng rải rác ở khắp các vùng nông thôn. Do đó, quan điểm về nông thôn có những đổi khác so với trước đây. Có thể hiểu, nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, cùng hỗ trợ nhau phát triển. Ở Việt Nam do đặc thù đất chật, người đông; theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về “Việc phân loại đô thị”, quy định nước ta có 6 loại đô thị như sau: - “Đô thị loại đặc biệt: Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành thành từ 15.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại I: Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên; mật độ dân số bình quân khu vực nội thành đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên, đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động. - Đô thị loại II: Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 300 nghìn người trở lên, trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị đạt trên 800 nghìn người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành đô thị 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động. - Đô thị loại III: Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động. - Đô thị loại IV: Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại V: Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 2.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động” [7, tr. Từ căn cứ đó, nông thôn được xác định là những khu vực nằm ngoài các tiêu chí quy định như trên. Vì vậy, có thể coi nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người; mật độ dân cư ít hơn 2.000 người/km2; tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 35% trở lên trong tổng số lao động. Việc phân biệt giữa nông thôn và thành thị chỉ có tính chất tương đối bởi trên thực tế vẫn còn sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn.
Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay đã dẫn đến hiện tượng nông thôn hoá đô thị nhanh chóng. Ở Việt Nam hiện nay nông thôn được hiểu là vùng sinh sống của tập hợp dân cư với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, không chỉ đơn thuần là 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nông dân nhưng nông dân vẫn chiếm đa số. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Quá trình đổi mới đất nước, đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh đã và đang làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam.
Theo Quy định tại Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xét về không gian địa lý, theo địa bàn cư trú: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông” [75, tr. Theo tác giả nông thôn hiện nay là địa bàn cư trú, sinh sống của dân cư gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, nhưng nông dân vẫn chiếm đa số và chủ yếu làm nghề nông. Một số đặc điểm nông thôn Việt Nam hiện nay Nông thôn Việt Nam thể hiện tính đa dạng về tự nhiên và môi trường sinh thái bởi nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Do vậy, hoạt động sản xuất mỗi vùng lại có những cách thức, đặc trưng riêng tạo nên bản sắc văn hoá cho mỗi vùng miền. Cư dân sinh sống ở nông thôn có mối quan hệ dòng họ, họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc, gia đình và làng xã. Các gia đình trong một dòng họ sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời, cùng với những người ngoài dòng họ chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền. Cung cách ứng xử xã hội ở nông thôn thường nặng về tục lệ hơn là pháp lý.
Nông thôn có một lối sống đặc thù là lối sống cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động sản 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất nông nghiệp. Hiện nay, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa của quốc gia như phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh. Cùng với sự phát triển xã hội, nông thôn cũng ngày càng đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội, đa dạng về trình độ tổ chức, quản lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển. Ở nông thôn, cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông do vậy đây là địa bàn sản xuất chủ yếu của các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Trong các làng xã truyền thống hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận người nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này cũng có sự thay đổi. Vùng nông thôn hiện tại dân cư trú không chỉ phần lớn là nông dân làm nông nghiệp mà thay vào đó là dân cư trú tiến hành nhiều hoạt động sản xuất khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ. Theo đó, tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng công nghiệp và dịch vụ.
Nông thôn thường gắn với một nghề lao động xã hội truyền thống đặc trưng và nổi bật là hoạt động sản xuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất chủ yếu ở nông thôn là đất đai. Do đó, nó tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp của người nông thôn với nơi chôn rau cắt rốn của mình.