CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦY SẢN 1. Tổng quan về phát triển bền vững thủy sản Ngành thuỷ sản được hiểu là ngành sản xuất vật chất lợi dụng khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người. Môi trường nước ở đây có thể là vùng nước trên đất liền hay trên hải đảo., và các động thực vật sống trong môi trường nước được gọi là nguồn lợi thuỷ sản, nó là cơ sở để phát triển các hoạt động thuỷ sản. Đứng trên quan điểm hệ thống về tổ chức sản xuất, ngành thủy sản được chia ra thành nhiều phân ngành: nuôi trồng, khai thác, chế biến, thương mại, dịch vụ [17], [20].
Phát triển Phát triển là một quá trình vận động đi phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện. Khái niệm phát triển cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định [4]. Quá trình phát triển được thể hiện: (1). Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn; (2).
Cơ cấu kinh tế thay đổi theo xu hướng tích cực; (3). Cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư; (4). Giữ gìn, cải thiện và bảo vệ môi trường. Khái niệm về phát triển bền vững Thuật ngữ phát triển bền vững (PTBV) lần đầu tiên được sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) năm 1980 với mục tiêu tổng quát là đạt được sự PTBV thông qua bảo tồn các tài nguyên Luan van 6 sống.
Khái niệm về PTBV đang phổ biến nhất được trình bày trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) năm 1987, theo đó thừa nhận mối liên kết chặt chẽ giữa môi trường và phát triển: “PTBV là sự phát triển mà vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu cầu của họ, đồng thời còn tạo điều kiện và bảo đảm cho các thế hệ có cuộc sống tốt hơn”. Điều đáng lưu ý là trong khi IUCN nhấn mạnh đến sự thống nhất các giá trị, các vấn đề môi trường và bảo tồn trong quá trình phát triển thì WCED lại tập trung vào tính bền vững về kinh tế - xã hội: “PTBV là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã hội, môi trường và tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ tương lai”. Trong cuốn “Cứu lấy trái đất – Chiến lược vì sự sống bền vững”, khái niệm PTBV tiếp tục được hoàn thiện. Theo đó việc bảo tồn môi trường, các khía cạnh kinh tế và xã hội được lồng ghép với nhau, và các nguyên tắc lồng ghép cũng được cụ thể hóa.
Như vậy, nếu trước đây, PTBV thường được gắn với bảo vệ môi trường, thì ngày nay, khái niệm PTBV đã vượt ra khỏi khuôn khổ bảo vệ môi trường đơn thuần, trở nên bao quát và toàn diện hơn. Khái niệm PTBV thể hiện một sự thừa nhận rằng những nhu cầu về xã hội, môi trường và kinh tế phải được lồng ghép với nhau một cách cân đối và hài hòa, chỉ có như vậy đất nước mới có thể PTBV trước mắt cũng như lâu dài. Phát triển kinh tế, xã hội, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trở thành 03 trụ cột của PTBV. Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững (Jonhanesburgs – Nam Phi, năm 2002), quan điểm về PTBV được chú trọng với nội dung cụ thể là “thu hẹp khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới, xóa bỏ nghèo đói, nhưng không làm ảnh hưởng đến môi sinh; thực hiện phát triển kinh tế trong tương quan chặt chẽ với bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội ở tất cả các quốc Luan van 7 gia, khu vực và toàn cầu”.
Đây là tiền đề và nền tảng bảo đảm cho sự phát triển bền vững [5], [7], [11], [12]. Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Ngay từ Đại hội III năm 1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường”.
PTBV là đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài nhưng sự phát triển ấy phải trên cơ sở ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường, sự phát triển trong hiện tại phải tạo tiền đề cho sự phát triển trong tương lai”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, chiến lược phát triển KT – XH 10 năm (2001 – 2010) là: “ Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường…Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” [12]. Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.
Như vậy, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương Luan van 8 nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua. Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững. Phát triển bền vững thủy sản Để tồn tại và phát triển, từ xa xưa con người đã tiến hành các hoạt động sản xuất thủy sản. hoạt động thủy sản là việc khai thác tài nguyên thủy sản – những tiềm năng của nguồn lợi thiên nhiên sinh vật sinh sống trong mặt nước, mặt đất…Đây là loại tài nguyên tái tạo được, nhưng thường rất nhạy cảm và chịu rủi ro rất cao trước các diễn biến của tự nhiên (đất, nước, khí hậu…) và các tác động nhân sinh trong quá trình phát triển, nên thường chịu rủi ro về môi trường và dịch bệnh.
Đồng thời bản thân các hoạt động sản xuất thủy sản (nuôi trồng, khái thác, chế biến) cũng đã làm nảy sinh các vấn đề môi trường rất khác nhau, tác động mạnh đến chất lượng môi trường các thủy vực, các vùng đất ngập mặn, các hệ sinh thái quan trọng, nguồn giống thủy sản tự nhiên và đa dạng sinh học thủy sinh thay đổi theo chiều hướng xấu, bị phá hủy, bị suy thoái, suy giảm, thậm chí có nơi mất hẳn, khó phục hồi hoặc phục hồi chậm…điều này sẽ đi đến kết cục là nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển lâu dài của các cộng đồng địa phương, các ngành và của đất nước. Có thể thấy, lĩnh vực thủy sản cũng bị chi phối mạnh bởi nguyên tắc cơ bản của kinh tế là nguyên tắc khan hiếm – các tài nguyên thủy sản mà con người cần là rất hạn chế và sẽ khan hiếm. Bởi thế, con đường đúng đắn nhất để phát triển ngành thủy sản là hướng bền vững: nguồn lợi thủy sản và tài nguyên phải được sử dụng lâu dài, vừa thỏa mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của hệ sinh thái vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. Phát triển phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững là quá trình phát triển đồng bộ, hợp lý, hài hoà giữa các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng và chế biến, dịch vụ thủy hải sản; có sự TTKT ngày càng cao và ổn định gắn liền với việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng Luan van 9 cao trình độ dân trí, văn minh của nhân dân; ổn định xã hội, an ninh, quốc phòng; bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản; phòng chống thiên tai; cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường của địa phương, khu vực có hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản.
Như vậy có thể hiểu phát triển bền vững thủy sản là: - Phát triển ngành thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích lâu dài và một nghề cá có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau. - Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng các hệ thống tài nguyên thủy sản, các hệ sinh thái thủy vực, các hệ sinh thái biển và vùng ven bờ. - Đảm bảo quyền lợi của cộng đồng dân cư hưởng dụng nguồn lợi thủy sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi thủy sản giữa các thế hệ, góp phần xóa đói giảm nghèo nông ngư dân.
- Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liên quan tới thủy sản, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khác liên quan đến tính bền vững của nguồn lợi thủy sản. Nội dung của Phát triển bền vững Hiện nay, vấn đề đánh giá tính bền vững của sự phát triển KT – XH nói chung và ngành thủy sản nói riêng là hết sức khó khăn.