Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghề nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam là ngành kinh tế mang lại hiệu quả nhanh, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh, tập quán nuôi mang tính tự phát, phân tán và thiếu quy hoạch đồng bộ đang tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, gia tăng rủi ro dịch bệnh và ảnh hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trong thực tế sản xuất, các loại hóa chất và chế phẩm xử lý môi trường như thuốc khử trùng, thuốc diệt nấm, thuốc diệt tảo, thuốc diệt ký sinh trùng được sử dụng phổ biến. Khi bị lạm dụng hoặc dùng không đúng kỹ thuật, các hóa chất này để lại tồn dư trong môi trường nước, tạo ra các chủng vi sinh vật kháng thuốc, làm giảm giá trị thương phẩm của thủy sản và đe dọa trực tiếp chất lượng nguồn nước mặt tiếp nhận. Bên cạnh đó, các hộ gia đình chủ yếu nuôi trồng theo quy mô nhỏ lẻ, thiếu hệ thống hạ tầng thủy lợi đồng bộ; ao nuôi không có kênh cấp và thoát nước riêng biệt mà dẫn nước và xả thải trực tiếp vào kênh mương nội đồng hoặc đồng ruộng chung, gây ô nhiễm chéo giữa các vùng canh tác. Bùn đáy ao, hóa chất tồn lưu và xác thủy sản chết không qua xử lý cũng bị thải bỏ trực tiếp ra môi trường bên ngoài.
Tại xã Sông Khoai (thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh), nghề nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh nhờ hệ thống thủy văn thuận lợi. Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích nuôi trồng tự phát đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiểm soát và đánh giá chất lượng môi trường nước. Trước thực tế đó, đề tài "Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm đến môi trường nước tại xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Tìm hiểu công tác nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá các tác động từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tới môi trường nước.
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm nhằm cải thiện môi trường nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu gắn liền với yêu cầu thu thập số liệu khách quan, phản ánh trung thực hiện trạng môi trường nước tại địa phương; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Môi trường nước tại các ao nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã Sông Khoai (bao gồm nước cấp vào ao, nước trong quá trình nuôi, nước thải sau nuôi) và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; các điểm khảo sát và quan trắc tập trung tại nguồn cấp từ hồ Yên Lập, ao nuôi của hộ ông Vũ Xuân Nhung (thôn 4) và kênh dẫn nước thải lân cận.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ ngày 20/01/2014 đến ngày 30/04/2014 (thời điểm lấy mẫu thực địa vào ngày 10/03/2014; phân tích phòng thí nghiệm hoàn tất trong tháng 03 và tháng 05/2014).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các khái niệm nền tảng về môi trường, nguồn nước và ô nhiễm nguồn nước được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Luật Tài nguyên nước 2012. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước được chia thành ba nhóm:
- Chỉ tiêu vật lý: Độ pH (nồng độ ion H+), nhiệt độ nước, màu sắc, độ đục (đo bằng đơn vị NTU/FTU/JTU), tổng hàm lượng chất rắn (TS), tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TDS).
- Chỉ tiêu hóa học: Hàm lượng oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), các hợp chất nitơ (amoniac NH3, muối amoni NH4+, nitrat NO3-), các kim loại nặng (kẽm - Zn, sắt - Fe).
- Chỉ tiêu vi sinh vật: Vi khuẩn chỉ thị Coliform tổng số và Escherichia coli (E.coli).
Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật được viện dẫn trong công trình bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006).
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 (thông qua ngày 26/12/2012, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013).
- Nghị định số 102/2008/NĐ-CP của Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên và môi trường.
- Thông tư số 33/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh thú y.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT, Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg, Chỉ thị số 02/2004/CT-BTNMT.
- Tiêu chuẩn so sánh: QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, áp dụng Cột B1 (nước dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được tác giả áp dụng:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê sử dụng đất và tình hình sản xuất nông nghiệp từ UBND xã Sông Khoai và Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Quảng Yên.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát thực tế kỹ thuật chuẩn bị ao, mật độ thả giống, chế độ cho ăn, tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thủy sản và cấu trúc hệ thống kênh mương tưới tiêu tại các thôn.
- Phương pháp lấy mẫu và bảo quản: Thực hiện theo TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4:1987) về lấy mẫu nước ở ao hồ tự nhiên và nhân tạo. Mỗi mẫu nước là mẫu tích hợp (lấy tại 3 vị trí khác nhau trong vùng quan trắc rồi trộn đều). Thiết kế 3 vị trí lấy mẫu:
- Mẫu 1 (ký hiệu Mẫu 1 và mẫu bổ sung T4-11): Nước cấp vào ao từ hệ thống kênh dẫn nước hồ Yên Lập qua xã Sông Khoai.
- Mẫu 2 (ký hiệu Mẫu 2 và mẫu bổ sung T4-12): Nước trong ao đang nuôi cá tại hộ ông Vũ Xuân Nhung (thôn 4, diện tích ao 4 ha).
- Mẫu 3 (ký hiệu Mẫu 3 và mẫu bổ sung T4-12): Nước thải tại kênh mương thoát nước, cách bờ ao hộ ông Nhung 10 m.
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
- Phân tích các thông số lý - hóa tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ ngày 10/03/2014 đến 15/03/2014.
- Phân tích thông số Coliform tại Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên từ ngày 24/04/2014 đến 12/05/2014.
- Các tiêu chuẩn phân tích: pH theo TCVN 6492-1999; DO theo TCVN 5499-1995 (phương pháp Winkler); COD theo TCVN 6180-1996; BOD5 theo TCVN 6001-1995; TSS theo TCVN 6625-2000; NO3- theo TCVN 6625-2000 / TCVN 6494-1999; Zn và Fe theo TCVN 6193-1996 (phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa); Coliform theo TCVN 6187-1996 (phương pháp màng lọc).
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, lập bảng so sánh và vẽ biểu đồ biến động nồng độ các chất ô nhiễm bằng phần mềm Microsoft Excel, đối chiếu trực tiếp với giới hạn cho phép tại QCVN 08:2008/BTNMT cột B1.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu bật vai trò kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản theo quan niệm dân gian "Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền", chỉ rõ các nguy cơ môi trường do nuôi trồng tự phát gây ra, xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu, các yêu cầu kỹ thuật và ý nghĩa học tập - thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp cơ sở lý luận về các thông số môi trường nước (pH, DO, BOD, COD, hợp chất nitơ, kim loại nặng, vi khuẩn E.coli và Coliform). Tác giả hệ thống hóa 11 văn bản luật, nghị định, thông tư và tiêu chuẩn TCVN làm cơ sở đánh giá.
Về cơ sở thực tiễn, tài liệu tổng kết dữ liệu phát triển thủy sản:
- Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu năm 2010 đạt 59,9 triệu tấn (trị giá 119 tỷ USD), bình quân giai đoạn 1980 - 2010 tăng trưởng 8,8%/năm; hàng năm ngành thủy sản thế giới thải ra môi trường khoảng 3 triệu tấn bùn hữu cơ chưa qua xử lý.
- Tại Việt Nam, sản lượng nuôi trồng năm 2008 đạt 2,45 triệu tấn (kim ngạch xuất khẩu 4,5 tỷ USD), diện tích mặt nước mặn lợ có tiềm năng đạt 761.138 ha.
- Tại thị xã Quảng Yên, năm 2012 thả nuôi 7.102 ha thủy sản (nước mặn, lợ 6.159 ha; nước ngọt 805 ha), lượng con giống thả gồm 356 triệu tôm giống và 20 triệu cá giống; bão số 14 năm 2013 từng gây thiệt hại 187 ha đầm nuôi tại địa phương.
- Tổng quan các giải pháp xử lý sinh học nước thải thủy sản bằng hệ vi sinh vật (hiếu khí, kỵ khí) và hệ động - thực vật thủy sinh (dẫn chứng nghiên cứu của Jones năm 2001 về khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của loài sò đá Sydney giúp giảm 49% TSS, 80% tổng nitơ, 67% tổng photpho).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Văn bản quy định rõ địa điểm nghiên cứu tại xã Sông Khoai, thời gian thực hiện từ 20/01/2014 đến 30/04/2014. Nội dung nghiên cứu gồm 5 phần việc: đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; đánh giá tình hình nuôi trồng thủy sản; đánh giá chất lượng nước cấp, nước ao và nước thải; phân tích nguyên nhân - tác động ô nhiễm; đề xuất biện pháp giảm thiểu. Quy trình lấy 3 mẫu tích hợp và các phương pháp thử nghiệm phòng thí nghiệm được tiêu chuẩn hóa theo TCVN.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả tập trung các số liệu điều tra và thực nghiệm cụ thể:
1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Sông Khoai:
- Diện tích tự nhiên toàn xã là 1839,0 ha. Địa hình bán sơn địa lòng chảo, độ cao 15 - 30 m so với mực nước biển, độ chênh cao 15 m; khu vực giữa Sông Khoai 1 và Sông Khoai 2 trũng thấp, dễ bị ngập úng.
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, tổng số giờ nắng 1700 - 1800 giờ/năm; chịu ảnh hưởng trực tiếp của 3 - 5 cơn bão/năm (tốc độ gió 20 - 40 m/s từ tháng 5 đến tháng 10). Hệ thống thủy văn có sông Bạch Đằng và kênh dẫn nước từ hồ Yên Lập.
- Kinh tế: Cơ cấu kinh tế gồm nông nghiệp 50,7%, tiểu thủ công nghiệp 40,9%, thương mại dịch vụ 8,4%. Toàn xã có 170 trang trại/gia trại chăn nuôi - thủy sản (365 lao động), 220 hộ kinh doanh tổng hợp, 3 hợp tác xã. Thu nhập bình quân đầu người đạt 11 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo 7,8%.
- Dân số và hạ tầng: Dân số toàn xã gồm 10.601 người/hộ (tỷ lệ tăng tự nhiên 1,3%; mật độ 585 người/km2 tại 11 thôn). Lực lượng lao động có 5.800 người (lao động nông nghiệp chiếm 53,9%). Hạ tầng thủy lợi có 12.600 m kênh tưới nhánh và 26.050 m kênh tưới tiêu. Hệ thống rãnh thoát nước thôn xóm có tổng chiều dài 33 km nhưng mới có 11 km đạt yêu cầu tiêu thoát; xã chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung hoàn chỉnh (có 1 trạm cấp nước công suất 700 m3/ngày đêm tại Sông Khoai 2, người dân chủ yếu dùng giếng khoan, giếng đào và nước mưa).
2. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại xã Sông Khoai:
- Đất nông nghiệp toàn xã là 1560,29 ha; trong đó đất trồng lúa nước là 806,99 ha (51,72%), đất lâm nghiệp 225,96 ha (14,48%), đất sông suối chuyên dùng 190,93 ha (12,23%), đất cây ăn quả 172,45 ha (11,05%), đất nuôi trồng thủy sản chiếm 163,96 ha (10,50%).
- Năm 2013, toàn xã có 278 hộ tham gia nuôi trồng thủy sản. Tỷ lệ hộ tập trung cao nhất tại Thôn 7 (45 hộ - 16,18%), Thôn 9 (42 hộ - 15,01%), Thôn 10 (34 hộ - 12,23%), Thôn 5 (32 hộ - 11,51%), Thôn 11 (31 hộ - 11,15%), Thôn 6 (24 hộ - 8,63%), Thôn 3 (21 hộ - 7,55%), Thôn 4 (20 hộ - 7,19%), Thôn 8 (12 hộ - 4,31%), Thôn 2 (10 hộ - 3,59%), Thôn 1 (7 hộ - 2,51%). Quy mô hộ cá biệt đạt từ 2,5 ha (hộ ông Bùi Văn Bán, thôn 5) đến 3 ha (hộ ông Nguyễn Văn Nặc, thôn 9) và 4 ha (hộ ông Vũ Xuân Nhung, thôn 4).
- Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt: Cải tạo ao bằng cách tháo cạn nước, nạo vét đáy để lại 15 - 20 cm bùn, phơi đáy 3 - 4 ngày, rắc vôi bột khử trùng, bón lót phân chuồng ủ kỹ; cấp nước qua lưới lọc và để ổn định 5 - 7 ngày đến khi nước có màu xanh nõn chuối. Cơ cấu giống thả gồm: cá trắm cỏ 80%, cá rô phi 10%, cá chép 10%; kích thước cá giống 6 - 8 cm; tắm nước muối 2% trong 5 - 10 phút trước khi thả; mật độ thả 2 - 3 con/m2. Chế độ thức ăn gồm cỏ rong (2 - 3 kg/100 cá trắm cỏ), cám ngô, cám gạo, thức ăn công nghiệp viên (0,3 - 0,5 kg/100 cá giống trong 2 tháng đầu) và bón bổ sung 10 - 15 kg phân chuồng hoai mục cho 100 m2 ao mỗi tuần.
3. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước:
Tác giả phân tích các thông số mẫu nước cấp hồ Yên Lập, mẫu nước trong ao nuôi và mẫu nước thải, phát hiện sự gia tăng rõ rệt của hàm lượng chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng.
4. Nguyên nhân và tác động ô nhiễm:
- Hoạt động nuôi tự phát, thiếu quy hoạch, không có kênh cấp - thoát nước độc lập dẫn tới xả thải trực tiếp vào kênh mương nội đồng.
- Thức ăn công nghiệp và phân bón dư thừa phân hủy trong nước; trích dẫn số liệu thất thoát ra môi trường từ 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho từ thức ăn.
- Lạm dụng hóa chất: Khoảng 70% hộ dân sử dụng hóa chất và chế phẩm theo cảm tính, vượt liều quy định. Các loại thuốc sử dụng phổ biến gồm: Formalin (phun phòng nấm thủy mi và trùng qua da với liều 150 - 200 ml/m3), Melafix (trị thối vây, đục mắt với liều 1 muỗng trà/40 lít nước), thuốc tím tắm trị sán lá, vitamin C trộn thức ăn (30 mg/kg cá/ngày), vôi bột cải tạo đáy (quy định 10 - 15 kg/1000 m2 nhưng thường dùng quá mức).
- Chất thải bài tiết và bùn lắng đáy ao tích lũy lâu ngày không được xử lý sinh học.
5. Đề xuất biện pháp giảm thiểu:
Tác giả đề xuất nhóm giải pháp quản lý - chính sách (lập quy hoạch vùng nuôi tập trung, xây dựng kênh dẫn - thoát riêng, kiểm soát nguồn cung ứng thuốc thủy sản, tuyên truyền kỹ thuật) và nhóm giải pháp công nghệ sinh học (xây dựng mô hình xử lý nước thải bằng hồ sinh học và phương pháp cánh đồng tưới).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về hiện trạng ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải ao nuôi cá tại xã Sông Khoai và kiến nghị UBND xã, các cơ quan chuyên môn tăng cường giám sát, hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ dân.
Kết quả và đóng góp
Kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm đối với 3 mẫu nước quan trắc tại xã Sông Khoai được tổng hợp và đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) theo bảng sau:
| STT |
Thông số phân tích |
Đơn vị |
Mẫu 1 (Nước cấp) |
Mẫu 2 (Nước trong ao) |
Mẫu 3 (Nước thải) |
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) |
| 1 |
pH |
- |
6,90 |
7,25 |
7,45 |
5,5 - 9,0 |
| 2 |
DO |
mg/l |
8,38 |
6,52 |
6,93 |
$\ge 4$ |
| 3 |
COD |
mg/l |
24,63 |
95,75 |
100,05 |
30 |
| 4 |
BOD5 |
mg/l |
10,01 |
75,50 |
89,30 |
15 |
| 5 |
TSS |
mg/l |
79,11 |
157,40 |
203,80 |
50 |
| 6 |
NO3- |
mg/l |
0,215 |
5,580 |
5,270 |
10 |
| 7 |
Zn |
mg/l |
0,047 |
0,062 |
0,390 |
1,5 |
| 8 |
Fe |
mg/l |
0,0005 |
0,0008 |
0,0011 |
1,5 |
| 9 |
Coliform |
MPN/100ml |
240 |
1.200 |
4.600 |
7.500 |
Từ kết quả thực nghiệm, tác giả rút ra các nhận định định lượng chính xác:
- Nguồn nước cấp (Mẫu 1): Nước dẫn từ hồ Yên Lập nhìn chung đạt tiêu chuẩn cấp nước tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản theo QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 đối với hầu hết các chỉ tiêu (COD, BOD5, DO, NO3-, Zn, Fe, Coliform). Riêng chỉ tiêu TSS đạt 79,11 mg/l, vượt giới hạn cho phép 1,58 lần (ngưỡng quy chuẩn là 50 mg/l) do nước chảy qua hệ thống kênh mương hở dài qua nhiều khu vực dân cư, cuốn theo bùn đất và cặn lắng lơ lửng.
- Nước trong ao nuôi (Mẫu 2): Hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ và chất rắn tăng cao đột biến: TSS đạt 157,4 mg/l (vượt quy chuẩn 3,15 lần); COD đạt 95,75 mg/l (vượt quy chuẩn 3,19 lần); BOD5 đạt 75,50 mg/l (vượt quy chuẩn 5,03 lần). Chỉ tiêu DO giảm từ 8,38 mg/l xuống 6,52 mg/l. Nồng độ NO3- tăng từ 0,215 mg/l lên 5,58 mg/l; Coliform tăng gấp 5 lần (từ 240 lên 1200 MPN/100ml). Nước trong ao có màu xanh thẫm và mùi tanh.
- Nước thải ra môi trường (Mẫu 3): Mức độ ô nhiễm gia tăng nghiêm trọng nhất sau chu kỳ tích tụ chất thải: TSS đạt 203,8 mg/l (vượt quy chuẩn 4,08 lần); COD đạt 100,05 mg/l (vượt quy chuẩn 3,34 lần); BOD5 đạt 89,30 mg/l (vượt quy chuẩn 5,95 lần). Coliform tăng lên 4600 MPN/100ml; hàm lượng kẽm (Zn) tăng lên 0,39 mg/l (gấp hơn 8 lần mẫu nước cấp). Mẫu nước có màu xanh đen, mùi tanh nồng và hôi thối.
Đóng góp thực tiễn của khóa luận:
- Cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm nguyên bản về chất lượng nước nuôi cá nước ngọt tại xã Sông Khoai năm 2014, xác định chính xác TSS, COD và BOD5 là các tác nhân ô nhiễm vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Làm rõ tập quán kỹ thuật nuôi trồng địa phương (cơ cấu thả 80% trắm cỏ, dùng phân chuồng bón ao hàng tuần, liều lượng dùng Formalin, Melafix, thuốc tím và vôi bột) để làm cơ sở giải thích nguồn gốc các chất ô nhiễm.
- Đề xuất các giải pháp khả thi: Quy hoạch hệ thống kênh cấp - thoát nước riêng biệt; kiểm soát liều lượng sử dụng thức ăn và hóa chất; ứng dụng các mô hình xử lý sinh học bằng hồ sinh học (kết hợp các ngăn hiếu khí, tùy tiện, kỵ khí) và cánh đồng tưới thực vật trước khi xả nước thải ra môi trường tự nhiên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Số lượng vị trí quan trắc thực nghiệm còn hẹp: Tác giả mới chỉ lấy mẫu đại diện tại một mô hình ao nuôi điển hình của hộ ông Vũ Xuân Nhung (thôn 4) và một vị trí kênh xả thải kế cận; chưa thực hiện lấy mẫu đồng loạt tại các hộ nuôi ở 10 thôn còn lại để so sánh đối chứng.
- Tần suất lấy mẫu chỉ thực hiện tại một đợt khảo sát (ngày 10/03/2014), chưa theo dõi được sự biến thiên của các thông số theo các thời điểm khác nhau trong chu kỳ sinh trưởng của cá và các mùa thời tiết khác nhau trong năm.
- Số liệu về tình hình sử dụng thuốc và hóa chất chủ yếu dựa trên điều tra xã hội học và ước lượng của người dân; công trình chưa tiến hành phân tích tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, kháng sinh hoặc kim loại nặng trong bùn đáy ao.
- Số liệu địa chất công trình và khả năng chịu tải nền đất toàn xã chưa có tài liệu khảo sát chuyên sâu mà chỉ ghi nhận qua quan sát công trình xây dựng dân dụng tại địa phương.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài:
- Mở rộng mạng lưới điểm quan trắc trên các vùng nuôi tập trung khác nhau tại thị xã Quảng Yên với tần suất lấy mẫu định kỳ nhiều đợt trong suốt vụ nuôi.
- Nghiên cứu thực nghiệm hiệu quả xử lý thực tế của mô hình hồ sinh học hoặc bãi lọc ngập nước nhân tạo đối với dòng nước thải ao nuôi thủy sản tại xã Sông Khoai trước khi nhân rộng.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường: Tài liệu cung cấp ví dụ thực tiễn về cấu trúc một đề tài đánh giá hiện trạng môi trường cấp cơ sở; quy trình áp dụng các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) trong lấy mẫu, bảo quản và phân tích trong phòng thí nghiệm; phương pháp đối chiếu và đánh giá số liệu theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT.
- Sinh viên ngành Nuôi trồng Thủy sản: Tham khảo các số liệu thực tế về quy trình kỹ thuật nuôi cá nước ngọt truyền thống (ghép trắm cỏ - rô phi - chép), tập quán sử dụng phân bón, chế độ cho ăn và danh mục hóa chất phòng trị bệnh thường dùng tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Cán bộ quản lý môi trường và nông nghiệp cấp xã, thị xã: Số liệu thống kê phân bố 278 hộ nuôi thủy sản, hiện trạng thủy lợi kênh mương và mức độ ô nhiễm hữu cơ trong nước thải là tư liệu hữu ích phục vụ công tác quy hoạch phân khu nuôi trồng thủy sản, cải tạo hạ tầng tiêu thoát nước và xây dựng các chương trình khuyến nông, hướng dẫn sử dụng hóa chất an toàn tại xã Sông Khoai và thị xã Quảng Yên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân tích những chỉ tiêu chất lượng nước nào và so sánh với quy chuẩn kỹ thuật nào?
Tác giả đã tiến hành lấy mẫu và phân tích 9 thông số chất lượng nước bao gồm: pH, hàm lượng oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), nitrat (NO3-), kẽm (Zn), sắt (Fe) và vi khuẩn Coliform. Toàn bộ kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, áp dụng giới hạn Cột B1 (nước phục vụ tưới tiêu thủy lợi và các mục đích sử dụng tương tự).
2. Nguồn nước cấp vào các ao nuôi thủy sản tại xã Sông Khoai được lấy từ đâu và có đạt quy chuẩn không?
Nguồn nước cấp cho các ao nuôi thủy sản tại xã Sông Khoai được dẫn từ hồ Yên Lập qua hệ thống kênh mương thủy lợi. Kết quả phân tích Mẫu 1 cho thấy nguồn nước cấp tương đối sạch: các chỉ tiêu pH (6,90), DO (8,38 mg/l), COD (24,63 mg/l), BOD5 (10,01 mg/l), NO3- (0,215 mg/l), Zn (0,047 mg/l), Fe (0,0005 mg/l) và Coliform (240 MPN/100ml) đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột B1. Duy nhất chỉ tiêu tổng chất rắn lơ lửng TSS đạt 79,11 mg/l, vượt 1,58 lần mức cho phép (50 mg/l) do nước bị xáo trộn bùn đất khi chảy qua quãng đường kênh mương dài.
3. Mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước trong ao nuôi và nước thải xả ra môi trường vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?
Kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ ô nhiễm hữu cơ vượt quy chuẩn nghiêm trọng:
- Trong ao nuôi (Mẫu 2): TSS đạt 157,4 mg/l (vượt 3,15 lần); COD đạt 95,75 mg/l (vượt 3,19 lần); BOD5 đạt 75,50 mg/l (vượt 5,03 lần).
- Nước thải ra kênh (Mẫu 3): TSS đạt 203,8 mg/l (vượt 4,08 lần); COD đạt 100,05 mg/l (vượt 3,34 lần); BOD5 đạt 89,30 mg/l (vượt 5,95 lần).
Các chỉ tiêu NO3-, Zn, Fe và Coliform tăng lên qua từng công đoạn nhưng vẫn nằm dưới ngưỡng tối đa của Cột B1.
4. Cơ cấu đàn cá giống và mật độ nuôi thả phổ biến của người dân xã Sông Khoai được ghi nhận ra sao?
Qua khảo sát thực địa, các hộ nuôi cá nước ngọt tại xã Sông Khoai thả giống với công thức phối trộn: 80% cá trắm cỏ, 10% cá rô phi và 10% cá chép. Kích thước cá giống khi thả đạt khoảng 6 - 8 cm/con. Trước khi thả, cá giống được tắm nước muối 2% trong thời gian 5 - 10 phút để sát khuẩn, loại trừ ký sinh trùng. Mật độ thả nuôi trung bình dao động từ 2 đến 3 con/m2 ao.
5. Người nuôi thủy sản tại xã Sông Khoai sử dụng những loại hóa chất nào và nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước là gì?
Khoảng 70% hộ dân sử dụng các loại hóa chất gồm: Formalin (phun phòng nấm và ký sinh trùng với nồng độ 150 - 200 ml/m3), Melafix (trị thối vây, đục mắt với liều 1 muỗng trà/40 lít nước), thuốc tím tắm phòng bệnh sán lá, vitamin C (30 mg/kg cá/ngày) và vôi bột cải tạo đáy (quy định 10 - 15 kg/1000 m2). Nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt gồm: người dân sử dụng hóa chất và phân bón theo cảm tính vượt mức khuyến cáo; lượng thức ăn công nghiệp dư thừa phân hủy (làm thất thoát 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho vào nước); mô hình chăn nuôi VAC xả thẳng chất thải động vật xuống ao; ao nuôi không có hệ thống xử lý nước thải mà xả trực tiếp ra hệ thống mương chung.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Phương đã phản ánh chi tiết hiện trạng kỹ thuật nuôi trồng thủy sản và đánh giá định lượng chất lượng môi trường nước tại xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên năm 2014. Kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm xác định rõ nguồn nước thải từ các ao nuôi cá bị ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng nghiêm trọng, với các chỉ số TSS, COD, BOD5 vượt giới hạn quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) từ 3 đến gần 6 lần. Các dữ liệu thực địa và giải pháp xử lý sinh học (hồ sinh học, cánh đồng tưới) được đề xuất trong công trình là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng cho công tác quản lý tài nguyên nước và định hướng quy hoạch nuôi trồng thủy sản bền vững tại địa phương.