CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN KHAI THÁC THUỶ SẢN VÀ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố về tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đến khai thác thuỷ sản và giải pháp ứng phó 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài 1.1 Tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đối với khai thác thuỷ sản Biểu đồ 1-1: Số công bố liên quan đến đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến thuỷ sản giai đoạn 1982-2006 Tác động đối với thuỷ sản Số nghiên cứu được công bố Thay đổi hiện tượng Thay đổi cấu trúc loài Chuyển dịch phân bố loài Thay đổi nhiệt độ mặt nước Nguồn: Sumaila và cộng sự [113] Số nghiên cứu về tác động kinh tế của BĐKH đến KTTS trên thế giới không nhiều [77, tr. Nghiên cứu định lượng về tác động kinh tế của BĐKH đến KTTS khiêm tốn hơn [77, 79]. Do khu vực biển nhiệt đới chủ yếu gần các nước đang phát triển vốn có năng lực nghiên cứu hạn chế nên số nghiên cứu được công bố thậm chí ít hơn nữa [69]. Sumaila và cộng sự [113, tr.3] cho biết trong giai đoạn 1982-2006, không có nghiên cứu nào được xuất bản ở khu vực Đông Nam Á về đánh 5 giá tác động của BĐKH đến thuỷ sản (Biểu đồ 1-1).
Thống kê này không bao gồm các nghiên cứu không liên quan trực tiếp đến thuỷ sản, ví dụ nghiên cứu về thay đổi phân bố thực vật phù du.24], tác động kinh tế của BĐKH đến KTTS được phản ánh qua nhiều vấn đề bao gồm trữ lượng, năng suất, quy mô đánh bắt, phân bố loài, chi phí đánh bắt (chi phí đầu tư mới, tiêu hao năng lượng,.), lao động, thị trường (khả năng tiếp cận thị trường, sự linh hoạt với những thay đổi của cung và giá cả,…), phân phối lợi nhuận và chi phí giữa các bên liên quan, khả năng sinh lời dài hạn và năng lực ứng phó. (2) Brander [42] cho rằng BĐKH có tác động kinh tế đối với hoạt động KTTS do chất lượng, số lượng và sự phân bố nguồn lợi thuỷ sản giữa các vùng đặc quyền kinh tế bị thay đổi. Việc gia tăng các đội tàu đánh bắt xa bờ làm giảm sự phụ thuộc vào đánh bắt một số loài hay tại một số vùng cụ thể, nhưng lại làm tăng cường lực đánh bắt, do đó trữ lượng thuỷ sản có nguy cơ giảm nhiều hơn [42, tr. Ngoài ra, để làm giảm mức phát thải carbon, các chính phủ cũng có thể nâng giá xăng dầu, do đó làm giảm nỗ lực đánh bắt xa bờ và tăng nỗ lực đánh bắt ven bờ, ít nhất cho đến khi tìm được loại nhiên liệu thay thế có giá rẻ hơn [81, tr.188] cho rằng BĐKH ảnh hưởng đến nghề cá thương mại thông qua trữ lượng thuỷ sản, vốn, lao động, và kỹ thuật.
Trữ lượng trong KTTS là loại nguồn lực tương tự như đất đai trong nông nghiệp. BĐKH làm thay đổi sự phân bố và trữ lượng thuỷ sản, do đó sẽ làm thay đổi địa bàn KTTS. Vốn đầu tư phụ thuộc vào vị trí và loài đánh bắt, do đó chịu ảnh hưởng của BĐKH trong việc lựa chọn và thay đổi đầu tư vào động cơ và ngư cụ. Lao động trên tàu cá thay đổi khi BĐKH làm ảnh hưởng đến vị trí ngư trường và thời gian đi tàu.
Việc sử dụng công nghệ, kỹ thuật đánh cá và các kỹ năng quản lý nghề đánh bắt cá cũng cần phải thay đổi để thích nghi với BĐKH. Kỹ thuật đánh bắt thay đổi cùng với nỗ lực đánh bắt, trữ lượng, sự bền vững của ngư trường, trong khi những nhân tố này bị thay đổi do tác động của BĐKH. 6 (4) Sumaila và cộng sự [113] chỉ ra rằng tác động kinh tế của BĐKH đối với KTTS bao gồm các tác động đối với giá, doanh thu, chi phí, và lợi nhuận. BĐKH làm giảm lượng cung do đó giá thuỷ sản tăng lên.
Tuy nhiên, người tiêu dùng có thể tìm kiếm các mặt hàng thay thế khi giá tăng, do đó sẽ làm giảm cầu sản phẩm thuỷ sản đánh bắt và từ đó làm giảm giá thuỷ sản. Doanh thu KTTS thay đổi do sự thay đổi về số lượng, chất lượng và phân bố nguồn lợi thuỷ sản, dẫn đến thay đổi sản lượng. Doanh thu cũng bị ảnh hưởng do sự thay đổi của giá. Chi phí đầu tư tàu thuyền, máy thuỷ,.
sẽ gia tăng nếu cần phải thay đổi hay đầu tư thêm để thích ứng với tác động của BĐKH. Sự thay đổi luồng di cư và phân bố nguồn lợi thuỷ sản ảnh hưởng đến quãng đường chạy của tàu cá, do đó làm thay đổi chi phí dầu, đá đông lạnh, chi phí nhân công và các chi phí liên quan khác. Cuối cùng, do sự thay đổi về giá, sản lượng, doanh thu, chi phí nên lợi nhuận KTTS sẽ thay đổi. Chú ý rằng giá tăng sẽ dẫn đến giảm lợi ích của người tiêu dùng.2 Các phương pháp nghiên cứu định lượng đánh giá tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đến khai thác thuỷ sản Có thể phân các phương pháp nghiên cứu định lượng về tác động của BĐKH đến KTTS theo hai nhóm gồm sử dụng và không sử dụng mô hình kinh tế lượng.
Tuỳ nghiên cứu cụ thể, các tác giả sử dụng riêng hoặc kết hợp cả hai nhóm phương pháp, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và mức độ sẵn có của số liệu. Nhóm các phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng (1) Phương pháp hàm sản xuất Phương pháp hàm sản xuất được sử dụng rộng rãi để đánh giá tác động của sự thay đổi chất lượng môi trường đối với nông nghiệp [30] và thuỷ sản [75]. Phương pháp này cũng được ứng dụng trong phân tích tác động của dòng chảy [37], hay xác định giá trị lợi ích bảo vệ của vùng đất ngập nước ven biển chống lại thiệt hại do bão gây ra [56]. Theo Barbier [37], phương pháp hàm sản xuất áp dụng phù hợp cho các nước đang phát triển do nhiều hệ thống sản xuất ở các nước này phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên và các chức năng sinh thái.
7 Theo Stern, tác động kinh tế của BĐKH có thể xác định thông qua mô hình hàm sản xuất, trong đó sản lượng sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào, thường là vốn, lao động, chất lượng môi trường [112, tr. Nếu tác động của BĐKH là tiêu cực thì chất lượng môi trường sẽ giảm và làm giảm sản lượng. Tuy nhiên, Mendelsohn và cộng sự cho rằng phương pháp hàm sản xuất có những sai lệch khi ước tính quá cao các thiệt hại trong nông nghiệp do không tính đến những thay đổi thích nghi của nông dân trong bối cảnh BĐKH [83, tr. Phương pháp hàm sản xuất thường được áp dụng kết hợp với mô hình sinh học-kinh tế, mô hình mô phỏng không gian, mô hình đánh giá tích hợp,… (2) Mô hình sinh học-kinh tế Phương pháp mô hình sinh học-kinh tế được sử dụng để đo lường phản ứng của quần thể loài trước sự tác động của môi trường (mô hình sinh học) và sau đó là ảnh hưởng kinh tế do sự thay đổi của quần thể (mô hình kinh tế).
Tốc độ tăng trưởng của một quần thể loài cụ thể phụ thuộc vào trữ lượng của loài đó và sức chứa của môi trường. Verhuslt (1838) lần đầu tiên mô tả tốc độ tăng trưởng của quần thể bằng đường cong Sigmoid [35], biểu thị theo phương trình dạng logistic. Sau đó, các dạng hàm mô tả đường cong tăng trưởng của quần thể đã được phát triển thêm như các dạng hàm Lotka-Volterra (Lotka 1925, Volterra 1926), Gause (1935), Cobb-Douglas (Cobb 1928, Douglas 1947), Ricker (1954) [68], Cushing [62, tr.90], và Fox [77, tr. Trong các nghiên cứu về tác động của BĐKH thì phương trình sinh học kể trên được bổ sung thêm các biến đại diện cho BĐKH ví dụ nhiệt độ, lượng mưa,… để xem xét tác động của BĐKH đến sự thay đổi trữ lượng.
Yếu tố kinh tế được đưa vào khi xem xét mối quan hệ giữa nỗ lực, sản lượng đánh bắt và lợi nhuận. Nghiên cứu của Garza-Gil và cộng sự [62] đã ước tính lợi nhuận của ngành đánh bắt cá trích ở châu Âu sẽ giảm bình quân 1,4% mỗi năm khi nhiệt độ tăng cao hơn 10% so với xu hướng tăng nhiệt độ Trái Đất trong thời gian qua. Các tác giả ước lượng hàm tăng trưởng tự nhiên của cá trích theo các biến nhiệt độ mặt 8 nước biển và sản lượng đánh bắt, sử dụng lần lượt các dạng hàm logistic, Ricker, Cobb-Douglas và Cushing. Hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas mở rộng được sử dụng với các biến độc lập là trữ lượng và cường lực đánh bắt.
Nghiên cứu của Garza-Gil và cộng sự [62] có điểm mạnh là đưa ra các ước lượng về lợi nhuận đánh bắt thay đổi theo một thông số quan trọng của BĐKH là nhiệt độ bề mặt nước biển. Tuy nhiên nghiên cứu này đòi hỏi có thông tin về trữ lượng cá. Ngoài ra, các tác giả đã cố định giá cá tại bến và chi phí đơn vị cho mỗi cường lực đánh bắt, trong khi các yếu tố này được Sumaila và cộng sự [113] cho biết sẽ thay đổi do tác động của BĐKH. Tác động kinh tế của BĐKH có thể phần nào nhìn thấy qua ảnh hưởng của El Nino (là hiện tượng ấm lên khác thường của các dòng hải lưu trên vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương), vì các sự kiện El Nino có ảnh hưởng giống BĐKH trong ngắn hạn [113, tr.
Sun và cộng sự cho biết trong đợt El Nino 1997-1998 sản lượng đánh bắt cá ngừ lưới vây ở Đài Loan giảm 48%, dẫn đến doanh thu giảm khoảng 6,22 tỷ đô la Mỹ năm 1998 [118, tr. Các tác giả đã sử dụng mô hình sinh học-kinh tế để xác định mức tăng chi phí đánh bắt cá năm 1998 so với trường hợp giả định nếu không xảy ra El Nino. Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ tăng làm cho trữ lượng cá giảm, dẫn đến sản lượng đánh bắt giảm mặc dù thời gian đánh bắt đã tăng lên để bù vào. Số liệu của nghiên cứu được lấy từ nhật ký chi tiết theo ngày của đội tàu đánh bắt cá ngừ lưới vây ở Đài Loan trong vòng 18 năm từ 1982 đến 1999, do đó số quan sát của chuỗi dữ liệu khá cao, các mô hình hồi quy đã được kiểm định với mức độ tin cậy cao.
Nghiên cứu có sử dụng thêm biến xu thế để thể hiện sự tiến bộ về công nghệ và kinh nghiệm đánh bắt theo thời gian. Mô hình sinh học-kinh tế chủ yếu áp dụng cho một loài thuỷ sản cụ thể do hàm sinh trưởng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm loài.