Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài Nuôi con nuôi là một quá trình khi một người đảm đương vai trò nuôi nấng đối với một người khác, và bằng cách đó, mọi quyền hạn và trách nhiệm của cha mẹ đẻ đã được chuyển dịch một cách ổn định lâu dài sang cho người đảm nhận việc nuôi dưỡng. Khác với việc giám hộ hay các hệ thống khác được xây dựng nhằm mục đích tạo điều kiện cho công tác chăm sóc trẻ em, việc nhận nuôi nhằm thiết lập sự thay đổi bền vững về vị thế pháp lý giữa người nhận nuôi và trẻ em được nuôi dưỡng, đồng thời đòi hỏi xã hội thừa nhận những thay đổi đó thông qua các hình thức công nhận về tôn giáo hay pháp luật [34]. Nuôi con nuôi có lịch sử phát triển lâu dài ở Châu Âu và gắn liền với vấn đề thừa kế của Triều đại Rom và Nhà thờ Công giáo.
Dấu ấn đầu tiên về phương diện pháp lý của hoạt động nuôi con nuôi được tìm thấy ở Bộ luật Hammurabi thế kỷ XVIII trước Công nguyên [4]. Bộ luật đã quy định chi tiết về quyền, nghĩa vụ của người được nhận làm con nuôi. Đế chế Rom cổ đại cũng đã có những tài liệu ghi nhận về hoạt động nuôi con nuôi thông qua Đạo luật Justinianus. Trong thế giới cổ đại, nuôi con nuôi chủ yếu vì lợi ích kinh tế và chính trị của người nhận con nuôi, đó là công cụ pháp lý để củng cố các quan hệ chính trị giữa những gia đình vương giả, tạo ra người thừa kế và quản lý gia sản.
Nhiều tài liệu cũng chỉ ra rằng, người Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại cũng có truyền thống nhận nuôi con nuôi chủ yếu vì mục đích tôn giáo và tập tục văn hóa. Người Ấn Độ thiên về việc nhận nuôi con trai để thực hiện nghi lễ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ma chay, trong khi đó, người Trung Quốc cổ đại chủ yếu chỉ nhận nuôi con trai để duy trì việc thờ cúng tổ tiên [31]. Qua nhiều thế kỷ, việc nuôi con nuôi đã có sự chuyển hóa về bản chất, từ hình thức nhận con nuôi trưởng thành vì mục đích có người thừa kế sang nhận trẻ em làm con để tạo dựng gia đình, chuyển từ việc đảm bảo sự tiếp nối của dòng họ thông qua con nuôi sang mô hình quan hệ xã hội mang cảm xúc mãnh liệt. Từ thế kỷ XVII, việc nuôi con nuôi đã được coi như một giải pháp đối với vấn đề của xã hội-đó là vấn đề trẻ em không có gia đình.
Ở đâu có trẻ em cần tìm cha mẹ thì ở đó có việc nuôi con nuôi. Xét về phương diện pháp lý, việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con lâu dài, bền vững, đảm bảo con nuôi được chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Pháp luật của các nước trên thế giới cũng như của Việt Nam đều hướng tới việc bảo vệ tốt nhất đối với mối quan hệ này [9]. Khái niệm nuôi con nuôi quốc tế dường như được hình thành cùng với những hệ quả của Đại chiến thế giới thứ II và thời kỳ Chiến tranh lạnh của thế kỷ 20.
Việc tham gia chiến tranh của binh lính, thủy thủ tại các nước Châu Âu hay Châu Á đã làm tăng đột biến số trẻ em có hai dòng máu. Bên cạnh đó, sau Thế chiến thứ hai, số lượng trẻ mồ côi không có khả năng tự chăm lo cho bản thân đã phát sinh nhu cầu cho nhận con nuôi. Ban đầu, khái niệm cho nhận con nuôi quốc tế gắn liền với việc nhận con nuôi của các công dân Mỹ đối với những trẻ em khác chủng tộc trong thời kỳ này, dần dần, cùng với xu thế phát triển chung của xã hội, khái niệm nuôi con nuôi quốc tế đã được luật hóa và trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến trên thế giới [33, 34]. Nhìn từ góc độ pháp lý, khái niệm nuôi con nuôi quốc tế ở mỗi nước khác nhau được quy định khác nhau, tuy nhiên đều phản ánh hiện tượng thực tiễn khi trẻ em có nhu cầu được chăm sóc, thường là từ các nước chậm hoặc đang phát triển, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được gửi từ nước nơi mình thường trú hợp pháp đến các gia đình nhận nuôi thường trú ở nước khác, thông thường là ở các nước phát triển.
Ở Việt Nam, khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hay còn gọi là nuôi con nuôi quốc tế-theo cách gọi quốc tế- đã có một quá trình phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 lần đầu tiên đã quy định về những vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài được nêu tóm tắt: “Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định”-Điều 53 và “Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó”-Điều 54. Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 đã quy định chi tiết hơn về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình (i) giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; (ii) giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam; (iii) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài (Điều 8 khoản 14).
Có thể thấy, mặc dù đã được luật hóa nhưng các quy định này vẫn mang tính liệt kê, chưa thể hiện rõ bản chất cũng như phản ánh đấy đủ những khía cạnh pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi quốc tế. Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp lý đã tiếp tục được ban hành để hướng dẫn cụ thể hơn việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như Quyết định số 145/HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tạm thời về việc cho người nước 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài nhận con nuôi là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động-thương binh và xã hội quản lý; Pháp lệnh hôn nhân và gia đình ngày 2/12/1993 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; Nghị định số 184/CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Cho đến năm 2010, cùng với việc ra đời của Luật Nuôi con nuôi, có thể nói, lần đầu tiên khái niệm nuôi con nuôi quốc tế đã được luật hóa một cách đầy đủ nhất, rõ ràng nhất với chi tiết cụ thể như sau: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài”-khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi. Như vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (hay nuôi con nuôi quốc tế) theo quy định của pháp luật Việt Nam được xác định trên hai yếu tố căn bản: quốc tịch và nơi cư trú của các bên tham gia quan hệ này.
Yếu tố quốc tịch thể hiện: việc nuôi con nuôi được xác lập giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài. Bên cạnh đó, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được áp dụng giải quyết khi các bên tham gia quan hệ cùng quốc tịch nhưng nơi cư trú vào thời điểm xác lập quan hệ nuôi con nuôi khác nhau-cùng là công dân Việt Nam nhưng một bên không định cư tại Việt Nam- hoặc cùng là công dân nước ngoài nhưng đang thường trú ở Việt Nam. Với quy định hiện hành, chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam có phạm vi áp dụng tương đối rộng so với một số nước cho trẻ em khác (Nước gốc). Ví dụ, Bộ luật Gia đình năm 2007 của Liên 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bang Nga quy định nuôi con nuôi quốc tế chỉ dựa vào yếu tố quốc tịch, cụ thể là: nuôi con nuôi quốc tế là việc nhận trẻ em là công dân Nga làm con nuôi của người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch, hoặc việc công dân Nga nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi (Điều 165).
Luật Con nuôi của Guatemala năm 2007 quy định nuôi con nuôi quốc tế chỉ dựa vào yếu tố nơi cư trú, cụ thể là: con nuôi quốc tế được hiểu là việc nhận con nuôi theo đó trẻ thường trú hợp pháp ở Guatemala được đưa đến một nước khác làm con nuôi (Điều 2 khoản b). Luật Nuôi con nuôi của một số nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc không đưa ra khái niệm con nuôi quốc tế nhưng có những quy định điều chỉnh việc nhận trẻ em Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan làm con nuôi của người nước ngoài. Điều này cho thấy, ở các Nước gốc, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thường được áp dụng dựa trên một yếu tố hoặc là quốc tịch hoặc là nơi cư trú của các bên tham gia quan hệ này, yếu tố nơi cư trú của trẻ em vào thời điểm xác lập quan hệ con nuôi không được nhấn mạnh như trong quy định của pháp luật Việt Nam.