Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển cùng sự hoàn thiện của hệ thống y tế và khoa học, thực tế đời sống ghi nhận nhu cầu nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Việc nhận nuôi con nuôi đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các cặp vợ chồng hiếm muộn, đồng thời mang tính nhân đạo khi tạo dựng mái ấm gia đình cho những trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa. Tuy nhiên, sự biến động của đời sống xã hội cũng làm phát sinh nhiều nguy cơ liên quan đến việc lợi dụng nhận nuôi con nuôi để mua bán, xâm hại hoặc bóc lột trẻ em. Do đó, hệ thống pháp luật về nhận nuôi con nuôi đóng vai trò là hành lang pháp lý thiết yếu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng như các bên tham gia quan hệ nuôi dưỡng. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Ngát (ngành Luật, Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia) được thực hiện nhằm phân tích toàn diện khung pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật nuôi con nuôi trong giai đoạn hiện nay.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ thực trạng việc nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam, phân tích trình tự, thủ tục pháp lý cần thiết và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm giảm thiểu những bất cập, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Để thực hiện mục đích này, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về nhận nuôi con nuôi, bao gồm khái niệm, đặc điểm và tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi;
  2. Nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật về nhận nuôi con nuôi từ điều kiện, quyền và nghĩa vụ cho đến trình tự, thủ tục đăng ký và chấm dứt thông qua Luật Nuôi con nuôi năm 2010, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành và các tài liệu chuyên khảo;
  3. Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam giai đoạn hiện nay thông qua các số liệu thống kê, văn bản và vụ việc thực tế;
  4. Làm rõ định hướng của Nhà nước và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về nhận nuôi con nuôi; thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, thủ tục đăng ký; cùng các giải pháp hoàn thiện pháp lý liên quan đến quốc tịch, hộ tịch và tài sản của con nuôi. Về phạm vi không gian, đề tài nghiên cứu trên quy mô toàn quốc, kết hợp khảo sát thực tế tại một số địa phương cụ thể như địa bàn quận Hà Đông (thành phố Hà Nội). Về phạm vi thời gian, khóa luận khái quát lịch sử phát triển pháp luật qua các thời kỳ phong kiến, trước Cách mạng tháng Tám, sau năm 1945 đến nay, và tập trung sâu vào giai đoạn hiện nay với các số liệu thống kê, thực tiễn áp dụng từ năm 2020 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan. Các văn bản pháp luật nền tảng bao gồm:

  • Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (Luật số 52/2010/QH12);
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định tại Điều 21, 22, 23, 24 về năng lực hành vi dân sự);
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (đặc biệt là Điều 70 về quyền và nghĩa vụ của con cái);
  • Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1986, 2000; Luật Nuôi dưỡng và Chăm sóc trẻ em năm 2004;
  • Sắc lệnh số 128/TTg năm 1957; Quyết định số 12/1991/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
  • Nghị định số 114/2016/NĐ-CP và Nghị định số 24/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Nuôi con nuôi;
  • Công ước La Hay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.

Về mặt phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp nghiên cứu, rà soát tài liệu: Phân tích, tổng hợp các quy định của văn bản luật, nghị định hướng dẫn, các bài viết học thuật, báo cáo chuyên đề và tiến hành phỏng vấn người nhận con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi và cán bộ cơ quan chức năng làm công tác tư pháp - hộ tịch;
  • Phương pháp thu thập, rà soát và xử lý số liệu: Thống kê, phân loại và phân tích số liệu về tình hình đăng ký nuôi con nuôi trên phạm vi toàn quốc và tại cơ quan tư pháp địa phương nhằm đưa ra các nhận định, kết luận có căn cứ thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận được trích xuất từ Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (báo cáo công tác nuôi con nuôi năm 2022 công bố ngày 07/03/2023), số liệu thống kê thực tế từ Phòng Tư pháp - UBND quận Hà Đông giai đoạn 2021-2023, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và hồ sơ vụ việc thực tiễn tại huyện Đông Anh (Hà Nội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về nhận nuôi con nuôi

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và nội dung pháp lý điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi tại Việt Nam.

Tác giả làm rõ các khái niệm pháp lý căn bản theo Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi; Cha mẹ nuôi và Con nuôi là các chủ thể được xác lập tư cách pháp lý sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Luật phân định rõ hai hình thức: Nuôi con nuôi trong nước (giữa các công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam) và Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam mà một bên định cư ở nước ngoài). Về mặt mục đích, pháp luật hiện đại chuyển đổi quan điểm từ "tìm một đứa trẻ cho gia đình" sang "tìm một gia đình cho đứa trẻ", đặt nguyên tắc tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc và bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ lên hàng đầu.

Về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi (Điều 4, Điều 5 Luật Nuôi con nuôi 2010), pháp luật thiết lập thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế:

  1. Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
  2. Công dân Việt Nam thường trú trong nước;
  3. Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
  4. Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

Khái quát lịch sử phát triển cho thấy sự tiến hóa qua các giai đoạn: thời kỳ phong kiến chịu ảnh hưởng của tập quán nối dõi tông đường; thời kỳ Pháp thuộc bắt đầu quản lý tư pháp qua tòa án; giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến nay từng bước hoàn thiện qua Sắc lệnh 128/TTg (1957), Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 (giới hạn tuổi con nuôi từ 15 tuổi trở xuống trừ diện đặc biệt), Quyết định 12/1991/QĐ-TTg, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, Luật Nuôi dưỡng và Chăm sóc trẻ em 2004, và dấu mốc hoàn chỉnh là Luật Nuôi con nuôi 2010 cùng các văn bản hướng dẫn.

Các quy định pháp lý then chốt được phân tích chi tiết:

  • Điều kiện đối với người nhận con nuôi (Điều 14, Điều 29): Phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; có tư cách đạo đức tốt. Các trường hợp không được nhận con nuôi gồm: người bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục/chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù, hoặc chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, ngược đãi, hành hạ, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Trường hợp dượng, mẹ kế hoặc người thân thích nhận nuôi được miễn trừ một số điều kiện về độ tuổi chênh lệch và điều kiện kinh tế, chỗ ở.
  • Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi (Điều 8): Trẻ em dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng.
  • Thẩm quyền và thủ tục đăng ký (Điều 9, 17, 18, 22, 31, 32, 33-38): Nuôi con nuôi trong nước do UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận nuôi hoặc người được nhận nuôi đăng ký (thời hạn giải quyết hồ sơ 30 ngày, trao giấy chứng nhận trong 20 ngày kể từ khi có sự đồng ý hợp lệ; định kỳ 6 tháng/lần trong 3 năm cha mẹ nuôi phải báo cáo tình hình cho UBND cấp xã). Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền quyết định của UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp thực hiện đăng ký, tổ chức lễ giao nhận có sự kiểm tra của Bộ Tư pháp.
  • Lấy ý kiến đồng ý (Điều 21): Phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ; cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý sau khi con đã sinh ra ít nhất 15 ngày; trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên bắt buộc phải có văn bản đồng ý tự nguyện.
  • Chấm dứt nuôi con nuôi (Điều 25, 26, 27): Chỉ chấm dứt theo quyết định của Tòa án khi có các căn cứ: con nuôi thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện; con nuôi hoặc cha mẹ nuôi bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của nhau hoặc ngược đãi, phá tán tài sản; hoặc vi phạm các hành vi bị cấm (Điều 13). Hậu quả pháp lý làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, khôi phục quan hệ pháp lý với cha mẹ đẻ (nếu con chưa thành niên), khôi phục họ tên và phân chia tài sản theo quy định.

Chương 2: Tình hình thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, đánh giá kết quả, chỉ ra các vướng mắc và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện.

Trong giai đoạn 2021-2022, công tác đăng ký và quản lý nuôi con nuôi trên toàn quốc đạt được nhiều kết quả tích cực, bảo đảm nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước và phối hợp liên ngành hiệu quả kể cả trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Số liệu thống kê toàn quốc cho thấy sự gia tăng rõ rệt về số lượng vụ việc được giải quyết:

Năm Tổng số vụ việc nhận nuôi con nuôi Số vụ việc trong nước Số vụ việc có yếu tố nước ngoài
2021 2.456 2.321 135
2022 3.051 2.908 143
Biến động (2022 so với 2021) Tăng 595 vụ việc Tăng 587 vụ việc Tăng 8 vụ việc

Bên cạnh số liệu toàn quốc, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được giải quyết làm con nuôi năm 2022 tăng 6,25% so với năm 2021. Một số địa phương ghi nhận chuyển biến tích cực trong công tác này gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Dương, Hải Dương, Phú Thọ và Khánh Hòa.

Ở cấp độ địa phương, kết quả đăng ký nuôi con nuôi tại Phòng Tư pháp - UBND quận Hà Đông (Hà Nội) trong giai đoạn 2021-2023 phản ánh tính chất ổn định của các quan hệ nuôi con nuôi thuần túy trong nước:

Năm Tổng số vụ việc nhận nuôi con nuôi Số vụ việc nhận nuôi con nuôi trong nước Số vụ việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
2021 7 7 0
2022 3 3 0
2023 6 6 0

(Nguồn: Bảng 2.1 - Phòng Tư pháp UBND quận Hà Đông)

Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn thi hành bộc lộ một số tồn tại và thách thức:

  • Nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng tự nuôi dưỡng trên thực tế nhưng không tiến hành đăng ký hộ tịch;
  • Thủ tục, hồ sơ đối với một số trường hợp còn rườm rà, kéo dài thời gian, tạo tâm lý e ngại cho người nhận nuôi;
  • Phát sinh hiện tượng sau khi nhận nuôi một thời gian, do điều kiện kinh tế không bảo đảm nên đã bỏ rơi con nuôi, gây tổn thương tâm lý cho trẻ;
  • Tác giả phân tích dẫn chứng vụ việc điển hình giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi tại huyện Đông Anh (Hà Nội) vào tháng 10/2021, phản ánh sự cần thiết của việc tuân thủ chặt chẽ căn cứ pháp lý và trình tự tố tụng khi quan hệ nuôi dưỡng bị đổ vỡ.

Về phương hướng và giải pháp, khóa luận tập trung vào: bám sát định hướng của Nhà nước trong các Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình công tác xã hội giai đoạn 2021-2030; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký hộ tịch; hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh các vấn đề tài sản, quốc tịch của con nuôi; đồng thời nâng cao hiệu lực kiểm tra, theo dõi định kỳ việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi sau khi đăng ký.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu pháp lý và số liệu thống kê:

  1. Về mặt số liệu thực tiễn: Tổng hợp và phân tích bức tranh thực thi pháp luật nuôi con nuôi tại Việt Nam giai đoạn 2021-2022 với 2.456 trường hợp (2021) và 3.051 trường hợp (2022), chứng minh xu hướng ưu tiên nhận nuôi con nuôi trong nước chiếm tỷ trọng vượt trội (lần lượt là 2.321 và 2.908 vụ việc). Khóa luận cũng cung cấp số liệu thực tế tại quận Hà Đông giai đoạn 2021-2023 (16 vụ việc trong nước, 0 vụ việc có yếu tố nước ngoài).
  2. Về mặt giải pháp: Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nuôi con nuôi tại Việt Nam, bao gồm:
    • Hoàn thiện các quy định về đăng ký hộ tịch, giải quyết xung đột pháp luật về quốc tịch và quyền tài sản của trẻ em được nhận làm con nuôi;
    • Đơn giản hóa quy trình xác minh và thủ tục giao nhận con nuôi nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm quyền trẻ em;
    • Tăng cường trách nhiệm giám sát, quản lý sau đăng ký của UBND cấp xã (duy trì chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng một lần trong 03 năm);
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Công ước La Hay 1993, Luật Nuôi con nuôi 2010 và Nghị định số 24/2019/NĐ-CP để nâng cao nhận thức cộng đồng.
  3. Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu tiền nhiệm (như luận văn thạc sĩ năm 2020 của Quách Minh An tại Đại học Luật Hà Nội chỉ tập trung vào địa bàn tỉnh Hòa Bình; hay chuyên đề năm 2017 của Trần Ngọc Thùy Trang tại Đại học Mở TP.HCM chỉ tiếp cận nuôi con nuôi trong nước) có phạm vi nghiên cứu hẹp. Đề tài này đóng góp cái nhìn tổng thể, bao quát cả hai mảng nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài trên phạm vi toàn quốc kết hợp khảo sát cụ thể tại địa phương trong giai đoạn biến động 2020-2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê chuyên sâu chủ yếu tập trung trong khung thời gian từ năm 2020 đến năm 2023 và giới hạn khảo sát địa phương tại địa bàn quận Hà Đông cùng một số dẫn chứng tại huyện Đông Anh (thành phố Hà Nội);
  • Nguồn số liệu toàn quốc được công bố qua Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp dừng lại ở mốc năm 2022.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát thực tế tại nhiều tỉnh thành thuộc các vùng miền khác nhau, phân tích sâu hơn tác động của chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu hộ tịch quốc gia đối với công tác đăng ký và theo dõi sau nhận nuôi con nuôi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Hành chính, Luật Dân sự và Quản lý nhà nước khi nghiên cứu về chế định nuôi con nuôi, quan hệ gia đình và quyền trẻ em;
  • Cán bộ làm công tác Tư pháp - Hộ tịch tại UBND cấp xã, chuyên viên Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp trong việc tra cứu, áp dụng trình tự, thủ tục lập hồ sơ, thẩm quyền đăng ký và theo dõi quản lý việc nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài;
  • Những người nghiên cứu quan tâm đến khung pháp lý bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam.

Phần nội dung phân tích chi tiết về quy trình lập hồ sơ (Điều 17, 18, 31, 32 Luật Nuôi con nuôi 2010) và căn cứ pháp lý giải quyết chấm dứt nuôi con nuôi là những phần có giá trị tham khảo thực tiễn cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Pháp luật quy định thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ em như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 5 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế gồm: (1) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; (2) Công dân Việt Nam thường trú trong nước; (3) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; (4) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài. Nếu có nhiều người cùng hàng ưu tiên thì giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt nhất.

2. Người nhận nuôi con nuôi trong nước phải đáp ứng các điều kiện cụ thể nào và trường hợp nào được miễn trừ một số điều kiện?
Theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, người nhận nuôi phải: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc nuôi dạy con; có tư cách đạo đức tốt. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về độ tuổi chênh lệch và điều kiện kinh tế, sức khỏe, chỗ ở.

3. Quy định về việc lấy ý kiến đồng ý của cha mẹ đẻ và trẻ em được nhận làm con nuôi được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày. Đối với trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên, bắt buộc phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó và việc đồng ý phải được lập thành văn bản trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện.

4. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được phân định ra sao?
Theo Điều 9 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: Đối với nuôi con nuôi trong nước, cơ quan có thẩm quyền đăng ký là UBND cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi. Đối với nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, UBND cấp tỉnh nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi ra quyết định, và Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

5. Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi và căn cứ chấm dứt gồm những trường hợp nào?
Quan hệ nuôi con nuôi chỉ chấm dứt khi có quyết định của Tòa án nhân dân (Điều 25 Luật Nuôi con nuôi 2010) dựa trên các căn cứ: con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt; con nuôi bị kết án về tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi, ngược đãi, hành hạ hoặc phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; cha mẹ nuôi có hành vi tương tự xâm hại con nuôi; hoặc vi phạm các hành vi bị cấm tại Điều 13 của Luật.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Ngát đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử phát triển và các quy định pháp luật thực định về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam. Dựa trên số liệu thống kê toàn quốc năm 2021-2022 và dữ liệu thực tế tại quận Hà Đông giai đoạn 2021-2023, công trình làm rõ những chuyển biến tích cực trong việc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước, đồng thời chỉ ra các hạn chế trong nhận thức người dân và thủ tục đăng ký. Các định hướng và giải pháp do tác giả đề xuất góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về hộ tịch, quyền trẻ em và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi.