Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT VIỆT NAM HIEN HANH VE NUÔI CON NUÔI 111. Một số vấn đề lý luận về nuôi con nuôi LLL Khái niệm con nuôi, cha mẹ nuôi, nuôi cơ nuôi Khái niệm con nuôi căn cứ theo quy định của pháp luật là người được chăm nom, nuôi đưỡng, chăm sóc và giáo dục bởi cha me nuôi. Cha mẹ nuôi 1à người được nhân con nuôi sau khi hoàn tat các thủ tục đăng ký với cơ quan nhả nước có thẩm quyển. Cụ thể theo quy định tại Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 như sau: "Nuôi con nuối la việc xác lập quan hệ cha, me và con giữa người nhận con nuôi va người được nhận.
lâm con nuôi”, tức 1a kể từ thời điểm nhận con nuôi, người nhận con nuôi có tư cách là cha, mẹ của trẻ em được nhân lam con nuôi. Ngoài ra, các hình. thức nhân nuối con nuôi như nhận trẻ mé côi về nuôi không khai bảo vả có đăng ký với cơ quan Nha nước, théa thuận bằng chữ viết hoặc lới nói ma không có sắc nhân hợp pháp của cha me để cho con mình lâm con nuôi người khác, hay người nhận con nuôi lam lễ cúng bái tổ tiên xin nhận con nuôi đều sẽ không được Nhà nước công nhên sắc lập quan hệ nuôi con nuôi, không có giá tr pháp Lý, do đó không được ác lập và công nhận các quyền và nghĩa ‘vu của cha, me, con theo quy định tại Điều 78 Luật hồn nhân va gia đính số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014. Con nuôi va cha, me nuôi có các nghĩa vụ va quyền giữa cha mẹ và con theo quy định của pháp luật như quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha me nuôi với nhau theo quy định của B6 luật Dân sự số 01/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015.
Một người chỉ có thé làm con nuôi của một người (cả nhân) hoặc của cả hai người lả vợ ching Những đứa trẻ sẽ không được coi lả con nuôi khi được chăm sóc, nuối dưỡng bởi người giám hộ, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Nhu vay, nuôi con nuôi 1a việc một người (hoặc mốt cặp vo chẳng có quan hé hôn nhân hợp pháp) nhân một hoặc nhiễu trẻ em lam con theo thủ tục. quy định mà không phát là người trực tiếp sinh ra đứa tré a5. Quan hệ gia đính giữa cha me nuôi va con nuôi được hình thành từ quan hé nuôi nắng, chăm sóc và phải được công nhận béi Nha nước 1.
Ý nghĩa của việ con mudi Kể từ khí Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực từ ngày O1 tháng D1 năm 2011, Luật đã gop phan giúp nhiêu tré em có hoàn cảnh khó khăn, trễ mỗ côi tim được mai 4m gia đính, đồng thời, giúp nhiều cấp vợ chồng hiểm muộn thöa mẫn ước mơ được lêm cha, làm me. Có thé nói, đây 1a một chính sách ‘mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đăng va Nha nước ta. Y nghĩa của việc nuôi con nuôi là bao đảm cho người được nhận lâm. con nuéi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giảo dục phủ hợp với dao đức xã hội và bảo đảm cho người nhân nuôi con nuôi được quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng khí giả yếu, ốm đau, tan tật.
Hơn nữa, viée nuôi con nuôi phải tuân theo các quy định của pháp luật, vi dụ như đạt đủ diéu kiện để một người có thể nhận nuôi con nuôi. "Thông qua hoạt động thực hiền pháp luật nuối con nuôi, mục đích của Nha nước khi ban hành Luật Nuôi con nuôi được hiện thực hoá, qua đó điều hành vả quân lý, thiết lập và giữ gìn trết tự xã hôi trong lĩnh vực mudi con nuôi một cách hé thông. Như vậy, thực hiện pháp luật nui con nuôi có các ý nghĩa sau: - Bão vệ thiết thực quyển cia trẻ em, đặc biết là quyền được sống trong môi trường gia định của tré em, giãi quyết được tinh trạng tré em không được. nuôi đưỡng, cham sóc; bảo vệ quyền vả lợi ích hợp pháp của các chủ tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi.
- Thực hiện pháp luật nuôi con nuôi hiệu quả sẽ có ý nghĩa dim bảo mục đích đưa Luật Nuôi con nuôi di vào cuộc sống và các quy định của pháp Int nuôi con nuôi trở thành hiện thực. - Thực hiện Luật Nuôi con nuôi nhằm đạt được những mục đích cơ bản. của pháp luật nuôi con mui , đồng thời qua đó có thé phát hiện được những, hạn chế, bat cập của các quy định vẻ hoạt động nuôi con nuôi, để từ đó có cơ sở đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bé sung hoàn thiện hơn khung pháp lý vẻ nuôi cơn nuôi. - Tạo cơ chế thuận lợi va sự an toàn vẻ mặt pháp lý cho quan hệ nuôi con nuôi, đảm bảo quyển cơ bản của trẻ em được nhân nuối một cách hợp pháp và hiểu quả nhất.
- Để xử lý các hành vi vi pham trong lĩnh vực muối con nuôi hoặc. những tranh chap xây ra trong quan hé mudi con nuôi 1. Pháp luật quốc tê vê nuôi con nuôi. Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp ma Việt Nam đã ký với các nước, có nhiều Hiệp định đã có dé cập ở mức độ nhất đính đến vấn đẻ nuôi con nuôi.
Bên cạnh đó, không thé không nhắc đến các Hiệp định vẻ hợp tac nuôi con nuôi ma Việt Nam đã ký với nhiễu nước trên thé giới. Tuy vay, các Hiệp định nay còn nhiều hạn chế trong việc điều chỉnh hoạt đông nuôi con nuôi. Các Hiệp định tương trợ tư phép chỉ dừng lại ở mức đô quy định về vẫn. để luật áp dung va thẩm quyển giải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế.
Trong khi đó, các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế dia đã chi tiết ‘hon khi thiết lập các cơ chế phối hợp song phương nhằm đâm bao diéu kiện. sống cho người được nhân nuôi, nhưng vấn còn hạn ché ở viée: các Hiệp định nảy vẫn chưa thực sự la khung pháp ly để điều chỉnh toàn diện các van dé trong hoạt đông nuôi con nuối quốc tế, va đây chi là Hiệp định song phương, giữa Việt Nam với từng nước riênglẻ, trong khi số lượng các Hiệp định nay là không nhiễu, chỉ giới han trong một số nước nhất định. Do đó, việc gia nhập Công ước La Hay số 33 vẻ bao vệ trẻ em va hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (goi tắt là Công tước La Hay) trở thành một bước tiến vượt bậc trong hoạt động nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam. Công ước La Hay lả công cu pháp lý quốc tế với 98 quốc gia thảnh viên, nối dung Công tước La Hay gồm có.
phạm vi áp dụng, các yêu câu đối với việc nuôi con nuôi quốc , thủ tục cho, nhận con nuối quốc tê, hệ quả của việc nuối con nuối. Có thé nói Công ước La Hay đã tạo nên một khung pháp lý mang tính phổ cập và tổng quát cho hoạt động nuôi con nuôi quốc tế, khắc phục được nhược điểm. của các Hiệp định trước đó, đó là không chỉ điểu chỉnh ở giai đoan cho, nhân. nuôi con nuối quốc tế, mà còn đảm bão các quyển và lợi ích của người được nhận nuôi trong qua trình được nhân nuôi, đồng thời có hiệu lực tổng quát với tắt cả các nước thành viền.
Cu thể, một sé điều khoản của Công ước quy định như sau: Điều 23 Công ước La Hay quy định những trường hợp nuôi con nuôi được các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ký kết chứng nhận phủ hợp với Công ước thì cũng được công nhận có gia trị pháp lý ở các nước thành viên khác. Điều 34 Công ước La Hay còn quy dink: một quốc gia chỉ có thé từ chối công nhân việc nuôi con nuối nêu việc nuôi con nuối đó trai với chính sách công của quốc gia do, va có xem xét đến lợi ich tốt nhất của trẻ em Như vậy, để công, nhận việc nuôi cơn nuôi được thực hiện 6 những nước thành viên thi việc nuôi con nuôi không được trái chính sách công hoặc trật tự công, có tinh đến lợi ích của tré em. Kế từ khi Việt Nam chính thức trở thảnh thành viên Công ước La Hay vào năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt để án triển khai thực hiện Công uéc La Hay giai đoạn 2012-2015 nhằm nâng cao nhên thức về Công 3n tước La Hay và tiếp tục hoàn thiên chính sách, pháp luật vẻ mudi con nuôi Qua hơn 8 năm thực hiện Công ước Công ước La Hay, Việt Nam đã đạt được. những kết quả nhất định như chất lượng gidi quyết việc nuôi con nuôi được dam bao, tuân thủ đúng yêu cầu cia Công tước La Hay, các trường hợp con nuôi quốc tế đều có sư giảm sát của Cơ quan Trung wong về nuôi cơn nuôi quốc tế của Việt Nam, nhiễu tré em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo không.
có cơ hội được nhận lâm cơn nuôi trong nước đã tìm được gia đính thay thé phù hợp ở nước ngoài, kênh thông tin va cơ chế phổi hợp giữa cơ quan Trung wong Việt Nam va các nước được thiết lập và tăng cường, tao được sự tin tưởng của các nước thành viên Công ước. Kể từ khi nước ta trở thành than viên Công ước La Hay năm 1993, các nước Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Dan Mạch và Thuy Sỹ tiép tuc duy tì hiệp định hợp tác song phương đẳng thời với việc thực hiện Công ước La Hay. Các nước Hoa Kỷ, Ai Len, Thuy Điển, Canada, Đức, Luxembourg, Na Uy va Bi hợp tác với Việt Nam trong khuôn. khổ Công ước La Hay.
Tương tự với Công ước La Hay, trong khuôn khổ hợp tác song phương, quyết định cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi được đương nhiên công nhân tại nước nhện, trừ phi việc công nhận này trái với chính sách công hoặc trắt tự công, hoặc quyết định nuôi con nuôi được công nhận nếu không trái với những nguyên tắc va giá tri cơ bản của pháp luật của nước có yêu cầu, có tính đến lợi ích cia trẻ em Tuy nhiên, quyết định nuôi con nuôi còn phãi tuân thi quy định pháp luật của nước gốc va Hiệp định song phương mới được đương nhiền công nhân. ‘Mot ví du cụ thể trong trường hợp nuôi con nuôi Việt Nam ~ Pháp 1a, ‘bén cạnh điều khoản công nhận việc nuôi con nuôi do cơ quan có thẩm quyền.