Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý truyền thống mang tính nhân đạo sâu sắc của Nhà nước Việt Nam, hướng tới mục tiêu tạo dựng mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhằm bảo đảm cho trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục toàn diện. Trong bối cảnh xã hội phát triển, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng gia tăng (đặc biệt là sau đại dịch COVID-19), đồng thời nhu cầu nhận con nuôi từ các cặp vợ chồng hiếm muộn, người độc thân cũng ngày một lớn.

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội này, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/02/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng, các quy định điều chỉnh hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi vẫn bộc lộ một số bất cập, khoảng trống và sự thiếu đồng bộ với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác (như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014). Tình trạng này dẫn đến những cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn xét xử và quản lý hộ tịch, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng như với gia đình gốc.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và lý luận đó, tác giả Đặng Thu Huyền đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam".

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; đánh giá mức độ hoàn thiện, tính tương thích của hệ thống pháp luật hiện hành; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo 3 nhóm quan hệ: giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi; giữa người được nhận nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi; giữa người được nhận nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc.
  3. Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi trong nước tại Việt Nam.
  4. Nhận diện các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung và văn bản pháp lý: Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan trực tiếp đến hệ quả pháp lý.
    • Về chủ thể và không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi trong nước giữa công dân Việt Nam với nhau, không đi sâu nghiên cứu quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về khoa học pháp lý hôn nhân và gia đình, lý luận về sự kiện pháp lý và quan hệ pháp luật dân sự.

Khung lý thuyết và khái niệm:

  • Tiếp cận dưới góc độ xã hội: Nuôi con nuôi là quan hệ xã hội hình thành giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, đạo đức hoặc lợi ích nhất định, chịu sự điều chỉnh của cả quy phạm đạo đức và phong tục tập quán.
  • Tiếp cận dưới góc độ pháp lý:
    • Là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ - con lâu dài, bền vững khi đáp ứng đủ 3 yếu tố: điều kiện chủ thể luật định, ý chí tự nguyện hợp pháp của các bên (cha mẹ đẻ/người giám hộ, cha mẹ nuôi, sự đồng ý của trẻ từ đủ độ tuổi luật định) và sự công nhận chính thức của Nhà nước thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.
    • Là một quan hệ pháp luật có đầy đủ các yếu tố cấu thành: chủ thể (cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con nuôi), khách thể (lợi ích vật chất và tinh thần hướng tới sự phát triển toàn diện của trẻ) và nội dung (tổng thể quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản).
  • Khái niệm hệ quả pháp lý: Là các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa con nuôi với cha mẹ nuôi và các thành viên trong gia đình cha mẹ nuôi; giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc phát sinh khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật để mổ xẻ nội dung điều luật.
  • Phương pháp hệ thống hóa văn bản pháp luật để xem xét tính đồng bộ giữa Luật Nuôi con nuôi năm 2010 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu các luồng quan điểm khoa học và quy định pháp lý qua các thời kỳ.
  • Phương pháp thống kê, trích dẫn tài liệu học thuật chuyên khảo.

Nguồn dữ liệu: Tác giả khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP), Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
  • Các công trình học thuật tiền bối: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Phương Lan (2007); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hiền (2013), Kiều Thị Huyền Trang (2014), Bùi Nguyễn Ánh Tuyết (2020); các bài báo khoa học của Triệu Thị Thu Thủy (2011), Nguyễn Phương Lan (2011), Nguyễn Thanh Xuân (2010); các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (2007, 2017).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về chế định nuôi con nuôi và bản chất pháp lý của hệ quả nuôi con nuôi:

  • Phân tích bản chất việc nuôi con nuôi dưới hai phương diện: sự kiện pháp lý và quan hệ pháp luật. Sự kiện nuôi con nuôi chỉ có hiệu lực khi hội tụ đủ 3 yếu tố: điều kiện luật định của các chủ thể; sự bày tỏ ý chí tự nguyện của cha mẹ đẻ (phải sau khi trẻ sinh ra ít nhất 15 ngày theo Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010), của người nhận nuôi và sự đồng ý của trẻ em từ đủ độ tuổi luật định; và sự công nhận thông qua việc đăng ký của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Chỉ rõ 3 ý nghĩa trọng tâm của việc quy định hệ quả pháp lý:
    1. Xác định ranh giới quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên, phòng ngừa và hạn chế tối đa các tranh chấp dân sự.
    2. Tạo hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em, ngăn chặn các hành vi lợi dụng việc nhận nuôi để bóc lột sức lao động, xâm hại hoặc trục lợi.
    3. Cung cấp căn cứ pháp lý vững chắc cho Tòa án và các cơ quan chức năng khi giải quyết các tranh chấp phát sinh.
  • Khái quát nội dung hệ quả pháp lý thành cấu trúc 3 mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi; quan hệ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc.

Chương 2: Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, đi sâu phân tích cơ chế điều chỉnh pháp luật thực định đối với từng mối quan hệ:

1. Quan hệ giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi:

  • Quyền và nghĩa vụ nhân thân: Kể từ ngày giao nhận con nuôi (Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010), cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tương đương cha mẹ đẻ và con đẻ theo Điều 69, Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện theo pháp luật, giám hộ, nghĩa vụ đối xử bình đẳng giữa các con).
  • Quy định về hộ tịch:
    • Thay đổi họ, tên con nuôi: Theo Khoản 2 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, điểm b Khoản 1 Điều 27 và điểm b Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015, cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đổi họ, tên con; việc thay đổi họ, tên cho con từ đủ 09 tuổi trở lên bắt buộc phải có sự đồng ý của con.
    • Bổ sung tên cha mẹ trong Giấy khai sinh: Căn cứ Khoản 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP) và Điều 19 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, chỉ bổ sung thông tin cha mẹ nuôi vào phần khai cha, mẹ trong Giấy khai sinh nếu con là trẻ bị bỏ rơi, chưa xác định được cha mẹ, hoặc trường hợp cha dượng/mẹ kế nhận con riêng làm con nuôi. Nếu Giấy khai sinh đã có tên cha mẹ đẻ thì pháp luật không cho phép xóa/thay đổi nhằm bảo đảm quyền được biết nguồn gốc của trẻ theo Luật Trẻ em năm 2016.
    • Xác định dân tộc: Về nguyên tắc không làm thay đổi dân tộc của con nuôi, trừ trường hợp trẻ bị bỏ rơi không xác định được cha mẹ đẻ thì mới xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi (Khoản 3 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015).
  • Quyền và nghĩa vụ tài sản:
    • Quản lý và định đoạt tài sản riêng của con nuôi: Tuân thủ quy định tại Điều 76, 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Con từ đủ 15 tuổi trở lên tự quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý; tài sản của con dưới 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Định đoạt tài sản của con từ đủ 09 tuổi phải xem xét nguyện vọng của con; con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi định đoạt bất động sản/động sản đăng ký phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ.
    • Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 586 và 599 Bộ luật Dân sự năm 2015, cha mẹ nuôi phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do con dưới 15 tuổi gây ra; con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi tự bồi thường bằng tài sản riêng, nếu không đủ thì cha mẹ nuôi bồi thường phần còn thiếu.
    • Chế định hạn chế quyền của cha mẹ: Tòa án có quyền ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ nuôi đối với con chưa thành niên từ 01 đến 05 năm (Điều 85, 86, 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

2. Quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi: Pháp luật hiện nay quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nhưng còn chung chung, dẫn đến hai luồng quan điểm học thuật:

  • Quan điểm thứ nhất: Cho rằng chỉ phát sinh quan hệ thành viên gia đình thông thường theo Điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (không có nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể theo Điều 112, 113, không có quyền thừa kế thế vị hay quan hệ thừa kế theo luật).
  • Quan điểm thứ hai (tác giả ủng hộ): Con nuôi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ bình đẳng như con đẻ đối với cha mẹ đẻ của người nhận nuôi (ông bà nuôi theo Điều 104, 113), với con đẻ của người nhận nuôi (quan hệ anh, chị, em theo Điều 105, 112; thừa kế hàng thứ hai) và với anh, chị, em ruột của người nhận nuôi (cô, dì, chú, bác theo Điều 106, 114).
Nhóm chủ thể trong gia đình nuôi Quyền và nghĩa vụ nhân thân Nghĩa vụ cấp dưỡng Quan hệ thừa kế
Cha mẹ nuôi - Con nuôi Đầy đủ quyền, nghĩa vụ như cha mẹ đẻ - con đẻ (chăm sóc, giáo dục, đại diện, giám hộ). Phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng khi đủ điều kiện luật định. Hàng thừa kế thứ nhất của nhau (Điều 651 BLDS 2015).
Ông bà nuôi - Cháu nuôi Trông nom, chăm sóc, giáo dục, làm người giám hộ đương nhiên (khi không có anh chị ruột). Cấp dưỡng theo Điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Thừa kế theo luật/thừa kế thế vị (theo quan điểm hoàn thiện).
Con đẻ - Con nuôi Yêu thương, đùm bọc, nuôi dưỡng nhau khi không còn cha mẹ. Cấp dưỡng theo Điều 112 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hàng thừa kế thứ hai của nhau.
Cô/Dì/Chú/Bác - Cháu nuôi Yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng khi không còn người nuôi dưỡng khác. Cấp dưỡng theo Điều 114 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hàng thừa kế thứ ba của nhau.

3. Quan hệ giữa người được nhận nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc: Căn cứ Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010:

  • Trường hợp có thỏa thuận: Cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thể thỏa thuận chấm dứt toàn bộ hoặc giữ lại một số quyền, nghĩa vụ nhất định dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất cho con.
  • Trường hợp không có thỏa thuận: Cha mẹ đẻ chấm dứt các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý và định đoạt tài sản riêng đối với con. Tuy nhiên, quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa con cho làm con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc không bị chấm dứt (con nuôi vẫn được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ đẻ và ngược lại theo quy định của pháp luật dân sự).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và một số giải pháp hoàn thiện

Chương này phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trên thực tế và đưa ra các định hướng hoàn thiện:

  • Đánh giá kết quả đạt được: Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ, giúp xác lập tư cách pháp lý cho con nuôi, tạo điều kiện cho trẻ hòa nhập gia đình mới và giảm thiểu tình trạng nhận nuôi tùy tiện, trá hình.
  • Vướng mắc thực tiễn:
    1. Quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 về quyền, nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi còn mang tính khái quát, dẫn đến xung đột khi áp dụng các điều khoản về cấp dưỡng (Điều 112, 113, 114 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) và quyền thừa kế thế vị (Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015).
    2. Chưa có cơ chế kiểm soát, đăng ký hoặc hướng dẫn cụ thể về hình thức, nội dung thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi theo Khoản 4 Điều 24, dẫn đến tranh chấp sau khi giao nhận con nuôi.
    3. Bất cập trong việc giải quyết hài hòa giữa quyền thay đổi hộ tịch để bảo đảm sự hòa nhập của con nuôi với quyền được biết nguồn gốc xuất thân của trẻ.
  • Hệ thống giải pháp hoàn thiện: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản liên quan nhằm cụ thể hóa địa vị pháp lý bình đẳng của con nuôi với các thành viên gia đình nuôi, chuẩn hóa quy trình thỏa thuận chuyển giao quyền cha mẹ, và hoàn thiện hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả pháp lý chính: Khóa luận đã phân tích có hệ thống các quy định thực định điều chỉnh 3 nhóm quan hệ phát sinh từ sự kiện nuôi con nuôi; chứng minh tính bất cập của việc quy định mang tính viện dẫn chung chung tại Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010; làm rõ mối quan hệ giữa quy định cấm đổi tên cha mẹ trong Giấy khai sinh (đã có thông tin cha mẹ đẻ) với quyền bảo đảm nguồn gốc của trẻ theo Luật Trẻ em năm 2016.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:
    • Kiến nghị sửa đổi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 theo hướng ghi nhận minh thị quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi (ông bà nuôi, anh chị em nuôi, cô dì chú bác nuôi) tương đương con đẻ, bao gồm cả quyền cấp dưỡng và thừa kế.
    • Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết Khoản 4 Điều 24 về hình thức và phạm vi thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, bảo đảm không xâm phạm lợi ích cơ bản của con nuôi.
    • Hoàn thiện sự thống nhất giữa pháp luật hộ tịch và pháp luật dân sự trong việc bổ sung thông tin hộ tịch của con nuôi.
  • Đóng góp học thuật: Đề tài đã kế thừa các công trình nghiên cứu lý luận trước đây của Trường Đại học Luật Hà Nội, đồng thời cập nhật và phân tích sâu sắc các đạo luật mới ban hành sau thời điểm Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Thông tư số 04/2020/TT-BTP), từ đó giải quyết các xung đột pháp lý hiện hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi trong nước giữa công dân Việt Nam với nhau, chưa bao quát phạm vi hệ quả pháp lý đối với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (người nước ngoài nhận con nuôi Việt Nam hoặc công dân Việt Nam nhận con nuôi ở nước ngoài).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về cơ chế bảo vệ quyền tài sản và nhân thân của con nuôi theo Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế; khảo sát thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp thừa kế, cấp dưỡng có sự tham gia của con nuôi tại hệ thống Tòa án nhân dân các cấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình làm tài liệu tham khảo cho các bài nghiên cứu, luận văn có chủ đề liên quan đến chế định nuôi con nuôi.
    • Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, phường trong công tác hướng dẫn thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch, xác định họ tên, dân tộc cho trẻ.
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư khi giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình có tranh chấp về quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng và chia thừa kế liên quan đến con nuôi.
    • Các cá nhân, gia đình đang thực hiện hoặc có dự định thực hiện thủ tục cho và nhận con nuôi.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao: Phân tích chuyên sâu tại Chương 2 về cơ chế phân định quyền quản lý, định đoạt tài sản của con nuôi theo độ tuổi; bảng so sánh các quan điểm pháp lý về quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình nuôi; phân tích quy định hộ tịch theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

Câu hỏi thường gặp

1. Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ bao nhiêu tuổi thì bắt buộc phải có sự đồng ý của người con?
Căn cứ Khoản 2 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, điểm b Khoản 1 Điều 27 và điểm b Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên bắt buộc phải được sự đồng ý của người con đó.

2. Trường hợp Giấy khai sinh của trẻ đã ghi đầy đủ tên cha đẻ và mẹ đẻ, cha mẹ nuôi có được yêu cầu đổi tên cha mẹ trong Giấy khai sinh thành tên mình không?
Không. Theo quy định của pháp luật hộ tịch (Thông tư số 04/2020/TT-BTP), cơ quan đăng ký chỉ bổ sung thông tin cha mẹ nuôi vào phần khai cha, mẹ trong Giấy khai sinh đối với trẻ bị bỏ rơi, trẻ chưa xác định được cha mẹ, hoặc trường hợp cha dượng/mẹ kế nhận con riêng làm con nuôi. Nếu Giấy khai sinh đã có tên cha mẹ đẻ thì không được xóa hay thay đổi, nhằm bảo đảm quyền được biết nguồn gốc của trẻ theo Luật Trẻ em năm 2016.

3. Khi nhận nuôi con nuôi, dân tộc của con nuôi có bị thay đổi theo dân tộc của cha mẹ nuôi không?
Về nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không làm thay đổi dân tộc của con nuôi (dân tộc của trẻ vẫn xác định theo cha mẹ đẻ). Trừ trường hợp con nuôi là trẻ bị bỏ rơi, chưa xác định được cha mẹ đẻ thì dân tộc của con mới được xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi (Khoản 3 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015).

4. Khi việc nuôi con nuôi được xác lập mà giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác, quyền thừa kế giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc có bị chấm dứt không?
Không. Theo Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, nếu không có thỏa thuận khác, cha mẹ đẻ chỉ chấm dứt các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại và quản lý tài sản riêng của con. Quyền thừa kế theo pháp luật giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc vẫn tiếp tục được duy trì theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Quan hệ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ của người nhận nuôi (ông bà nội/ngoại nuôi) nên được hiểu như thế nào theo quan điểm của tác giả khóa luận?
Tác giả khóa luận đồng tình với quan điểm cho rằng giữa con nuôi và cha mẹ đẻ của người nhận nuôi phát sinh đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tương đương quan hệ giữa ông bà và cháu đẻ theo quy định tại Điều 104, Điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật dân sự (bao gồm nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng và quyền thừa kế di sản của nhau).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thu Huyền đã nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ những điểm tích cực cũng như các bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ giữa cha mẹ nuôi - con nuôi, con nuôi - gia đình nuôi và con nuôi - gia đình gốc. Những giải pháp hoàn thiện được tác giả đề xuất xuất phát từ yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em và tính ổn định, hòa thuận của quan hệ gia đình. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, nghiên cứu pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi.