Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam mang bản chất xã hội và nhân đạo sâu sắc, phản ánh quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống tư pháp quốc gia. Số liệu thống kê lịch sử từ tổ chức Dịch vụ xã hội quốc tế (ISS) ghi nhận giai đoạn từ năm 1962 đến năm 2001 đã có hơn 7.000 trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi tại Hoa Kỳ. Riêng trong giai đoạn đầu hình thành chính sách, 357 trẻ em Việt Nam đã được giải quyết làm con nuôi tại 8 quốc gia phát triển gồm Mỹ, Canada, Pháp, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Ailen, Italy và Thụy Điển. Trong nhiều năm liền, Việt Nam giữ vị trí thứ 5 hoặc thứ 6 trên toàn cầu về số lượng trẻ em được cho làm con nuôi quốc tế, đồng thời là đối tác tiếp nhận hàng đầu của Pháp và Italy.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào sự tương thích giữa hệ thống pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế, đặc biệt sau bước ngoặt Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước Lahay năm 1993 theo Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2012. Mục tiêu cụ thể là phân tích toàn diện các quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, đối chiếu với 48 điều khoản của Công ước Lahay nhằm chỉ ra những bước tiến vượt bậc, nhận diện các xung đột pháp lý và khoảng trống thực thi.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn bản lề từ năm 2011 đến năm 2013 – thời điểm năm đầu tiên áp dụng Luật Nuôi con nuôi và năm đầu tiên thực thi Công ước Lahay trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình thẩm định hồ sơ, bảo vệ tối đa quyền lợi của hơn hàng nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong quan hệ tư pháp quốc tế với 89 quốc gia thành viên của Công ước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết bảo vệ quyền con người, trọng tâm là học thuyết bảo vệ quyền trẻ em theo Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 và Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về các nguyên tắc pháp lý, xã hội liên quan đến phúc lợi trẻ em. Trục lý thuyết này khẳng định nguyên tắc xuyên suốt: trẻ em phải được ưu tiên nuôi dưỡng trong môi trường gia đình gốc, và việc nuôi con nuôi quốc tế chỉ là giải pháp thay thế cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ (The best interests of the child).

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết hài hòa hóa và nội luật hóa điều ước quốc tế trong tư pháp quốc tế để xem xét mối quan hệ giữa các điều ước đa phương và pháp luật thực định quốc gia. Khung phân tích làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (xác định dựa trên hai tiêu chí quốc tịch và nơi cư trú).
  • Cơ chế quản lý tập trung thông qua Cơ quan con nuôi trung ương (Bộ Tư pháp được chỉ định từ ngày 08/09/2011).
  • Chế định phân loại hồ sơ trẻ em (Danh sách 1 và Danh sách 2 theo quy định chuyên ngành).
  • Hệ quả pháp lý toàn diện của việc nuôi con nuôi quy định tại Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

Mô hình nghiên cứu đối chiếu chuẩn hóa cấu trúc 7 chương của Công ước Lahay năm 1993 với 5 chương và 52 điều của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nhằm xác lập hệ thống tiêu chí so sánh về điều kiện chủ thể, trình tự thủ tục và cơ chế giám sát sau nuôi con nuôi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn gồm hơn 120 văn bản quy phạm pháp luật, hiệp định song phương, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2002 - 2012 của Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp, cùng hệ thống 42 khuyến nghị của Ủy ban đặc biệt Lahay ban hành tại phiên họp tháng 06/2010.

Về kỹ thuật thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật tại các địa phương có số lượng hồ sơ con nuôi quốc tế lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trong mốc thời gian 2 năm (2011 - 2013). Cỡ mẫu khảo sát thực tiễn bao gồm 15 báo cáo chuyên đề và 50 hồ sơ điển hình về giải quyết nuôi con nuôi đích danh và không đích danh.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp phương pháp quy nạp - diễn dịch và phân tích quy phạm là nhằm bóc tách chính xác sự tương thích giữa văn bản luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử giúp làm rõ tính tất yếu của việc chuyển dịch từ cơ chế hợp tác song phương sang đa phương trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng và quy phạm mang lại 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã tạo bước nhảy vọt về cơ chế quản lý khi tập trung thẩm định về Bộ Tư pháp, thay thế hoàn toàn tình trạng giải quyết khép kín tại 63 tỉnh thành theo Nghị định số 184/CP năm 1994. Cơ chế này loại bỏ hơn 80% nguy cơ tiêu cực, trục lợi và chấm dứt sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức con nuôi nước ngoài tại hơn 100 cơ sở bảo trợ xã hội trên cả nước.

Thứ hai, quy trình ghép trẻ (matching) đã đạt độ minh bạch cao nhờ việc phân định rõ hai nhóm: trẻ em tìm gia đình thay thế thông thường (Danh sách 1) và trẻ em có nhu cầu đặc biệt, khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo (Danh sách 2). Quy định bắt buộc niêm yết tìm mái ấm gia đình trong nước tối thiểu 60 ngày tại địa phương đã hiện thực hóa nguyên tắc ưu tiên môi trường gia đình gốc.

Thứ ba, nghiên cứu phát hiện sự bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp khi điều kiện của người được nhận làm con nuôi bị quy định phân tán tại nhiều văn bản (Điều 8, Điều 15, Điều 32 của Luật và Điều 3, Điều 14 của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP). Độ tuổi trẻ em được nhận nuôi quy định dưới 16 tuổi (mở rộng đến dưới 18 tuổi đối với con riêng, cháu ruột) có sự vênh lệch với quy định dưới 21 tuổi của Malaysia, Singapore hoặc dưới 14 tuổi của Trung Quốc.

Thứ tư, về điều kiện của người nhận con nuôi, quy định khoảng cách tuổi từ 20 tuổi trở lên giữa cha mẹ nuôi và con nuôi tại Điều 14 có sự khắt khe hơn so với khoảng cách 15 tuổi của Pháp hay 16 tuổi của Liên bang Nga. Đồng thời, pháp luật Việt Nam chưa công nhận việc nhận con nuôi của các cặp đôi cùng giới theo Khoản 3 Điều 8, tạo ra xung đột pháp lý khi xử lý hồ sơ đến từ các quốc gia công nhận hôn nhân đồng giới như Tây Ban Nha.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những điểm tương đồng và bất cập nêu trên xuất phát từ sự khác biệt về nền tảng văn hóa, điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm lập pháp truyền thống của Việt Nam so với các nước phát triển. So với công trình nghiên cứu năm 2006 của Phạm Thùy Dương và báo cáo đánh giá của tổ chức ISS năm 2009, luận văn đã cập nhật toàn diện tác động của việc gia nhập Công ước Lahay, chứng minh sự chuyển biến tích cực trong việc bảo đảm quyền trẻ em theo chuẩn mực toàn cầu.

Trong thực tiễn trình bày dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa qua bảng so sánh 6 tiêu chuẩn pháp lý giữa Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Công ước Lahay (về cơ quan trung ương, sự đồng thuận, điều kiện chủ thể, thủ tục ghép trẻ, tài chính minh bạch và chứng nhận giá trị quốc tế). Dữ liệu quy trình cũng được mô hình hóa qua biểu đồ luồng 8 bước từ khâu tiếp nhận hồ sơ tại Cục Con nuôi, xác minh tại Sở Tư pháp, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt cho đến khâu cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi quốc tế theo Điều 23 của Công ước. Sự minh bạch này giúp loại bỏ hoàn toàn các khoản "chi phí đen", tách bạch rõ ràng giữa lệ phí hành chính công và các khoản hỗ trợ nhân đạo tự nguyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi:

Thứ nhất, rà soát và sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tư pháp cần chủ trì sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2011/NĐ-CP trước năm 2015, hợp nhất các quy định về điều kiện của trẻ em vào một chương thống nhất, đồng thời xây dựng quy chuẩn đánh giá năng lực tâm lý của người xin nhận con nuôi theo đúng 42 khuyến nghị của Ủy ban Lahay.

Thứ hai, hiện đại hóa và số hóa quy trình quản trị dữ liệu. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông về trẻ em cần tìm gia đình thay thế tại 100% cơ sở nuôi dưỡng công lập và ngoài công lập trong giai đoạn 2014 - 2015. Mục tiêu tối thiểu 90% hồ sơ trẻ em diện Danh sách 1 và Danh sách 2 được cập nhật thời gian thực nhằm rút ngắn thời gian tìm mái ấm trong nước.

Thứ ba, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và nghiệp vụ tư pháp. Tổ chức định kỳ 10 - 15 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho 100% đội ngũ cán bộ tư pháp cấp tỉnh, nhân viên công tác xã hội và cán bộ hộ tịch cấp xã về kỹ năng tư vấn tâm lý, quy trình lấy ý kiến tự nguyện của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên và xác minh nguồn gốc trẻ bị bỏ rơi.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế theo dõi và bảo hộ sau nuôi con nuôi. Cục Con nuôi phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và Cơ quan con nuôi trung ương của 89 nước thành viên thiết lập cơ chế giám sát tự động, bảo đảm đạt tỷ lệ 95% báo cáo định kỳ tình hình phát triển của trẻ em (6 tháng/lần trong 3 năm đầu) được gửi về Việt Nam đầy đủ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị chuyên khảo sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và công chức tư pháp tại Cục Con nuôi, Bộ Ngoại giao, Sở Tư pháp thuộc 63 tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp cẩm nang tra cứu nghiệp vụ, giải thích chi tiết các quy chuẩn xử lý hồ sơ quốc tế và hạn chế sai phạm hành chính.

Thứ hai, luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và các tổ chức nuôi con nuôi quốc tế được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Tài liệu giúp làm rõ các điều kiện pháp lý khắt khe, quy trình hợp pháp hóa lãnh sự và thủ tục chuyển tiếp hồ sơ giữa các quốc gia thành viên.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân & Gia đình, Tư pháp quốc tế tại các cơ sở đào tạo luật. Đây là tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống luận cứ so sánh 48 điều của Công ước Lahay và văn bản pháp luật thực định.

Thứ tư, các nhà hoạt động xã hội, cán bộ quản lý tại hơn 150 trung tâm bảo trợ xã hội trên toàn quốc, giúp nắm vững quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Câu hỏi thường gặp

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định độ tuổi của người nhận con nuôi như thế nào? Người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên theo Điểm b Khoản 1 Điều 14. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi nhằm tạo điều kiện duy trì môi trường gia đình họ hàng thân thích.

Trẻ em ở độ tuổi nào đủ điều kiện làm con nuôi có yếu tố nước ngoài? Theo Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ được giải quyết nhận nuôi nếu được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Đối với trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên, pháp luật bắt buộc phải lấy ý kiến đồng ý bằng văn bản của trẻ.

Nguyên tắc ưu tiên tìm gia đình thay thế trong nước được thực hiện ra sao? Theo Điều 4 của Luật, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài là biện pháp thay thế cuối cùng. Cơ sở nuôi dưỡng và Sở Tư pháp phải thực hiện thông báo tìm gia đình thay thế trong nước trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 60 ngày; chỉ khi hết hạn mà không có người trong nước nhận nuôi thì mới lập danh sách giới thiệu cho người nước ngoài.

Việt Nam chính thức tham gia và thực thi Công ước Lahay 1993 vào thời điểm nào? Việt Nam ký tham gia Công ước Lahay ngày 07/12/2010, Chủ tịch nước phê chuẩn theo Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN ngày 18/07/2011. Văn bản phê chuẩn được nộp lưu chiểu ngày 01/11/2011 và Công ước chính thức có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam từ ngày 01/02/2012, đưa Việt Nam trở thành thành viên thứ 86 tại thời điểm đó.

Hệ quả pháp lý đối với quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ sau khi trẻ được nhận làm con nuôi? Theo Khoản 2 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý và định đoạt tài sản riêng của con đã cho làm con nuôi.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài từ năm 1962 đến thời kỳ thực thi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Công ước Lahay năm 1993.
  • Khẳng định bước tiến vượt bậc của pháp luật Việt Nam trong việc thiết lập đầu mối quản lý tập trung tại Bộ Tư pháp từ ngày 08/09/2011 và tách bạch hoàn toàn hỗ trợ nhân đạo khỏi quy trình giải quyết hồ sơ con nuôi.
  • Chỉ rõ những điểm tương thích và một số xung đột pháp lý kỹ thuật giữa quy định trong nước với 48 điều của Công ước Lahay về độ tuổi, điều kiện chủ thể và thẩm quyền.
  • Đề xuất lộ trình hoàn thiện thể chế giai đoạn 2013 - 2020, trọng tâm là sửa đổi văn bản dưới luật, số hóa dữ liệu trẻ em tại 63 tỉnh thành và nâng cao chất lượng báo cáo giám sát phát triển sau nhận nuôi.
  • Công trình là nguồn tài liệu học thuật và cẩm nang thực tiễn giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, thẩm phán, cán bộ tư pháp và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em trong nước và quốc tế.