Chương 1: Những vân đê lý luận về nuôi con nuôi và điều kiện nuôi con nuôi. Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về điêu kiện nuôi con nuôi Chương 3: Thực trạng thực hiện các điều kiện nuôi con nuôi và mét sô kiện nghị hoản thiện pháp luật về van dé này CHƯƠNG1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE NUÔI CON NUOI VÀ DIEU KIỆN NUOI CON NUOI 1. Khái niệm về nuôi con nuôi 1. Nuôi con nudi l Xuat phat từ lòng thương người, muôn cưu mang, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, việc nuôi con nuôi đã tôn tại xuyên suốt quá trình lich sử vả trong moi chế độ xã hội.
Với quan niệm này, việc nhận con nuôi đã được thiện hiện rộng rãi trong đời sóng nhân dân và có một số trường hợp nhân nuôi mà không có giây tờ rang buộc. Bởi vậy, ngày nay pháp luật đã có quy định rố rang về việc nhân nuôi con nuôi cũng như hê qua của việc nuôi con nuôi đã được quy định rõ tại bô Luật Hôn nhân vả gia đình năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Dân su năm 2015 và các bô luật khác có liên quan đã quy định cụ thể các điêu kiện dé việc nhận nuôi con nuôi hợp pháp, cũng như về hậu quả pháp lý vả thủ tục châm dứt việc nuôi con nuôi. Khái niệm nudi con nuôi được Xét đưới hai góc độ: góc xã hôi và góc đô pháp lí. Đầu tiên, dưới góc độ xã hôi Nuôi con nuôi là một quan hệ x4 hôi được hình thành một cách tự nhiên trong đời sông con người ma không dựa trên quan hệ huyết thong, “nhằm hình thanh quan hệ cha mẹ con”! và thỏa mãn nhu cau, lợi ích của các bên.
Trong cuộc sống, việc nhận một đứa trẻ làm con nuôi 1a một hành đông phé bién xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, một vải quan hệ cha mẹ con được hình thành trong những trường hợp nay đã thực hiên quyên vả các nghiia vụ tương ứng nhưng không đáp ứng đủ những quy định của nha nước nên quan hệ nuôi con nuôi không được công nhân pháp lý. Có nhiều hình thức nuôi con nuôi như: nuôi con nuôi theo phong tuc tập quan, nuôi con nuôi lập tu, nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi lay phúc. Mặc dù không được công nhận ` Nguyễn Phương Lam (2010), “Nuôi con xuôi thục tế - Thực trạng và giải pháp”, —tps./plaphuatdansu cởn vr2010/01/03/21/08/4280/,ngày 03/01/2010 pháp lý, quan hệ nuôi con nuôi này van tôn tại một cách thực tế và tao ra môi quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhân nuôi.
Do đó, từ góc độ xã hội, nuôi con nuôi là quá trình thiết lập quan hệ cha mẹ con trong thực tế giữa người nhận nuôi vả người được nhận nuôi, nhằm đáp ứng nhu câu về tình cảm và lợi ích của cả hai bên chưa xét đền sự công nhận từ cơ quan nhà nước có thâm quyên Thứ hai, dưới góc đô pháp i: Nếu như quan hệ pháp luật giữa cha me dé va con dé được căn ctr dựa vao sự kiện sinh dé thi quan hệ giữa cha mẹ nuôi va con nuôi được căn cứ vao sự kiện nuôi dưỡng. Quan hệ nuôi con nuôi được sự công nhận của các cơ quan có thâm quyên va được pháp luật điều chỉnh, có đây đủ yêu tô chủ thể, khách thé và nội dung Theo khoản 2 va Khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “Cha mẹ nuôi la người nhận nuôi sau khi việc nuôi con được cơ quan nha nước có thấm quyền đăng ký” va “Con nuôi là người được nhận lam con nuôi là người được nhận lam con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan có thấm quyên đăng ký”. Đây 1a hai chủ thé quan trong nhật của quan hệ nuôi con nuôi. Người nhận nuôi có thé là mét đôi vợ chồng có quan hệ hôn nhân hợp pháp, cũng có thể là người độc thân đáp ứng đủ điều kiên nuôi con theo quy định của pháp luật, có quốc tịch Việt Nam hoặc không có quốc tịch Việt Nam Nuôi con 1a việc xác lap quan hệ cha, me và con lâu dai, bên vững thông qua việc đăng ký tại cơ quan nha nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật gồm: điêu kiện cân và đủ của các bên chủ thé, ý chỉ tự nguyện của các bên liên quan trong quan hệ nuôi cha, me nuôi và con nuôi, y chí của cơ quan nha nước có thâm quyền, dé dam bảo quyền lợi, lợi ích cho người được nhận lam con nuôi cũng như người nhận nuôi.
Con cai “co bồn phan yêu quý, kinh trọng biết ơn, hiểu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự truyền thống tốt đẹp của gia đính”? 2 Khoin 2, Điều 70, Luật Hân nhân và gia đồh năm 2014. Về chủ thé: Các bên tham gia vào việc nuôi con nuôi, bao gồm người nhận nuôi, người được nhận nuôi va cha me dé, phải tuân thủ các điều kiện được quy định bởi pháp luật để xác lâp quan hệ nuôi con nuôi. Việc tuân thủ các điều kiện nảy là một yếu tô quan trọng dé quan hé nuôi con nuôi phát sinh hiệu lực pháp lý. Về sự thể hiện ý chi của các bên liên quan: Người nhận nuôi phải thể hiên ý chi của mình trong việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó.
Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi phải đồng y một cách tự nguyên, không có sự tác động, du dỗ, ép buộc nao. Người được nhận làm con nuôi có quyên thé hiện ý chí độc lập khi đạt đến độ tuổi nhất đính, va sự dong ý của họ là điều kiện bắt buộc dé việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý. Ý chí của nhà nước được thể hiện thông qua việc công nhận hoặc từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi. Việc nay lam phát sinh hiệu lực pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi.
Do đó, từ góc đô pháp lý, nhận nuôi con nuôi la một su kiện pháp lý, la việc một người hoặc hai người la vợ chồng hợp pháp nhận nuôi một người khác không phải do họ dé ra, từ đó xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhân nuôi và người được nhận nuôi, được cơ quan nhả nước có thâm quyền công nhận dua trên cơ sở phù hop với quy định của pháp luật. Điều liện nuôi con nuôi —_— Pháp luật là biêu hiện của ý chi của nha nước nham điêu chỉnh các nhu cầu ca nhân phát sinh từ đời sông thực tế. Trong thời kỳ chưa có nha nước va pháp luật, việc nuôi con nuôi diễn ra tự nhiên, dua vào nhu câu tình cảm của cá nhân Tuy nhiên, khi xã hội phát triển vả xuat hiện nha nước và pháp luật, việc nuôi con nuôi trở nên liên quan đền lợi ich của tré em, gia định và cả giai cap thống trị. Do đó, pháp luật quy định các điêu kiện nuôi con nuôi để bảo vệ loi ích của các bên và duy trì trật tự công công.
Quan hệ nuôi con nuôi được thiết lập dưa trêný chí và tình cảm của các bên mà không chỉ đơn thuan là quan hệ sinh học. Do đó, việc xác lập quan hé nuôi con nuôi phải tuân thủ các điêu kiện cu thé để tạo môi trường sống lành 10 mạnh vả an toản cho trẻ. Các điều kiện nảy được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật được nha nước quy định và các bên phải dap ứng để quan hệ nuôi con nuôi được công nhận pháp ly. Nếu các bên không đáp ứng được các diéu kiện nay, thi quan hệ nuôi con nuôi sẽ không có gia trị pháp lý.
Chỉ khi nao hội tu đủ các điều kiện về nội dung và hình thức do pháp luật quy định, quan hệ nuôi con nuôi mới được công nhận va phát sinh hiệu lực có pháp ly Hiện nay vẫn chưa có những văn bản pháp luật giải thích chính xác thê nao lả điều kiện nuôi con nuôi, nhưng theo từ điển Tiếng Việt, điều kiên là danh từ thể hiện cho cái cân phải có dé cho một cái khác xảy ra. Trong trường hợp nay, đôi với người nhận nuôi con nuôi va người được nhận nuôi, những yếu tô nay đã được quy định trong Điêu 8, Điều 14, Điều 21 Luật nuôi con nuôi 2010. Như vay, điêu kiện nuôi con nuôi lả những căn cứ pháp lý do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật để quy định tổng hợp các yêu tô cần và đủ đổi với các chủ thể có liên quan trong việc cho va nhận con nuôi phù hợp với mục đích, yêu cầu của việc nuôi con nuôi va la cơ sở dé việc nuôi con nuôi được công nhận hợp pháp 1. Ý nghĩa của nuôi con nuôi 1.
Ynghia của việc nuôi con nuôi Tạo mái âm gia đình cho tré em: Việc nhận nuôi con nuôi mang đến cho trẻ em mô côi, trẻ em bi bö rơi, hoặc trẻ em có hoản cảnh đặc biệt mét mái 4m mới, nơi các em được yêu thương, chăm sóc và giáo dục. Đây là điều kiện quan trọng giúp các em phát triển toàn điện về thé chat, tinh than va trí tuệ. Đông thời, việc nhận nuôi con nuôi cũng góp phân giảm bớt gánh nặng cho xã hôi trong việc bảo vệ và cham sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Mang lai niềm hạnh phúc cho gia đình: Với nhiều gia đình không thé có con dé, việc nhận nuôi con nuôi la cơ hội để ho được trai nghiệm niêm hạnh phúc lam cha me, được vun vén và xây dựng một gia đình tron vẹn Con nuôi mang đến sự am áp, tiếng cười và niêm vui "1 cho gia đình, giúp gắn kết các thảnh viên trong gia đình vả tạo nên một môi trường sông hạnh phúc, yêu thương.
Loi ích cho xã hôi: Việc nhận nuôi con nuôi mang lai nhiêu lợi ích cho cả cá nhân, gia định và x4 hội. Nó giúp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được sông trong môi trường gia đình yêu thương, phát triển toàn diện, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho xã hội.Việc nhận nuôi con nuôi thé hiện tinh thân tương thân tương ái, lòng yêu thương và sự chia sẻ giữa con người với con người. Đây là một hành động cao đẹp, góp phân xây dựng một x4 hội văn minh, nhân ai và có trách nhiệm với công đông. Nhận nuôi con nuôi còn giúp gắn kết các cá nhân, gia đính và công đồng lại với nhau, thúc đây sự phát triển bên vững của xã hội.