Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ kinh doanh 1.1 Khái niệm Hiện nay khó có thể đưa ra một định nghĩa thỏa đáng về hộ kinh doanh, và khó có thể nói hộ kinh doanh mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân. Theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì hộ kinh doanh được định nghĩa : “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định”.
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và (3) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ. - (i) Về hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được quyền thành lập hộ kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh cá nhân này phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình. Về bản chất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ là một thương nhân thể nhân.
7 - (ii) Về hộ kinh doanh do “hộ gia đình làm chủ”: Đây là một chủ thể kinh doanh “rất riêng” của Việt Nam, bởi vì đa phần các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân, hoặc một công ty. Việc quy định “hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh như trên vừa nói có lẽ xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết. Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện. Từ việc quy định hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ làm nảy sinh nhiều khía cạnh pháp lý về chủ thể này mà chúng ta cần nghiên cứu để làm sáng tỏ. Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các thành viên có tài sản chung.
Do đó hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương nhân thể nhân. 8 Dù Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể và dễ dàng nhận biết thế nào là hộ gia đình. Tuy nhiên hộ gia đình theo pháp luật dân sự khác với chủ thể hộ kinh doanh cá thể dẫn đến khó xác định đối tượng sẽ bị ràng buộc pháp lý khi xảy ra tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện. Điển hình: việc thành lập hộ kinh doanh không đòi hỏi, phải chứng minh quan hệ hôn nhân, huyết thống,…của các thành viên dẫn đến trường hợp hai hoặc ba thành viên sáng lập hộ kinh doanh là những người bạn thân có mối quan hệ bạn bè hàng xóm, bạn bè học đại học với nhau.
Trong thực tiễn các cơ quan hành pháp và tư pháp thường xác định tập hợp các thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu và nếu có bất kỳ giao dịch dân sự nào liên quan đến hộ gia đình thì cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân luôn yêu cầu người đại diện phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu như việc giao đất cho hộ gia đình. Thực tế trên đã và đang làm các giao dịch dân sự liên quan đến hộ gia đình bị hiểu và thực hiện lệch lạc so với quy định pháp luật về hộ gia đình. Trong khi đó, sổ hộ khẩu chưa chứng minh tính huyết thống (thành viên), gia đình, để xác định đối tượng chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung một chủ thể khác trong giao dịch dân sự bên cạnh hộ gia đình và tổ hợp tác, đó là “tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” [7], nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của các chủ thể là tổ chức nhưng không có tư cách pháp nhân trong các giao dịch dân sự, giải quyết những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến những chủ thể trên.
Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 không phân tách các quy định của hộ gia đình và tổ hợp tác ra thành 2 nội dung riêng biệt mà sử dụng những quy định nhằm điều chỉnh chung, căn cứ vào những đặc điểm giống nhau giữa 9 các chủ thể, tránh những nội dung trùng lặp gây phức tạp trong quy định của pháp luật. Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là hộ gia đình, tổ hợp tác. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc xác định nội hàm của những khái niệm trên là hết sức cần thiết để từ đó có thể làm rõ tư cách thành viên của những đối tượng này. Về chủ thể, khoản 1 Điều 101 quy định trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Được hiểu là bản thân hộ gia đình, tổ hợp tác hay tổ chức không có tư cách pháp nhân không được xem là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự mà là các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân hoặc là người đại diện theo uỷ quyền. Quy định này phù hợp với tinh thần chung của BLDS năm 2015, đó là chỉ có cá nhân hoặc pháp nhân mới là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đây là một bước tiến mới của BLDS năm 2015 nhằm phân định rõ trách nhiệm dân sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 101 ở đoạn thứ hai lại quy định thêm nếu thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.
Nói theo một cách khác, quy định này đòi hỏi phải có sự uỷ quyền của các thành viên khác thì thành viên được uỷ quyền mới có thể trở thành chủ thể quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư 10 cách pháp nhân. Theo chúng tôi, quy định này vô hình chung đã tạo nên sự mâu thuẫn và làm vô hiệu hoá quy định tại đoạn thứ nhất. Vậy câu hỏi đặt ra là có hay không cho phép thành viên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi không có sự uỷ quyền từ các thành viên khác? Thiết nghĩ, cần phải có hướng dẫn cụ thể cho nội dung này để tránh nhiều cách hiểu trái chiều. Về trách nhiệm dân sự, việc xác định quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân giúp làm rõ trách nhiệm dân sự của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự đó.
Cụ thể là nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên. Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ liên đới theo quy định tại Điều 288 BLDS năm 2015. Hoặc nếu các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên sẽ chịu trách nhiệm dân sự theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình; trường hợp không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau. Nói cách khác, các thành viên không còn phải chịu trách nhiệm liên đới vô hạn bằng tài sản riêng của mình, thay vào đó là trách nhiệm liên đới theo phần.
Đây là một điểm mới của BLDS năm 2015. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập. Điều 104 quy định: Nếu thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh các thành viên khác 11 của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì giao dịch dân sự đó vô hiệu đối với phần nội dung không có quyền đại diện.