Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE DIEU KIỆN KINH DOANH XĂNG DAU VÀ KHÁI QUÁT PHAP LUAT VE DIEU KIỆN KINH DOANH XĂNG DAU TẠI VIỆT NAM. Những vấn đề lý luận về xăng dầu, kinh doanh xăng dầu, điều kiện kinh doanh xăng dầu 1. Khái niệm và đặc điểm của xăng dau Xăng dầu là tên chung nhằm chi các sản phẩm của quá trình lọc dầu thô, dùng làm nhiên liệu bao gồm: Xăng động co, dầu điezen, dau hỏa, dầu ma dút, nhiên liệu bay; nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác dùng nhiên liệu động cơ, không bao gồm các loại khí hóa lỏng và khí nén thiên nhiên. Theo nghị định 95/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung nghị định số 83/2014/NĐ- CP thì “Xăng đâu là tên chung dé chỉ các sản phẩm của quá trình công nghệ chưng cat, chế biến dầu thô, chất thải và các nguyên vật liệu khác dé tao ra các san phẩm ding làm nhiên liệu, bao gồm: xăng, nhiên liệu điezen, dâu hỏa, dầu madit, nhiên liệu hàng không, nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác ding làm nhiên liệu, không bao gồm các loại khí hóa lỏng và khí nén thiên nhiên””.
Đặc điểm của xăng dầu: — Xăng dau là chất lỏng rất dé bốc cháy, dé bắt lửa, khi nén ở áp suất cao chuyển thành thể khí. — Khi cháy phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt. — Xăng dầu được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống và trong các ngành công nghiệp. Khái niệm kinh doanh xăng dau Ngành nghề đầu tư kinh doanh là ngành nghề mà nhà đầu tư quyết định lựa chọn vao thời điểm thành lập doanh nghiệp, hoặc quyết định lựa chọn khi gia nhập thị trường dau tư kinh doanh bằng nhiều hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau.vn/hoi-dap-phap-luat/1frame/24496-hd-xang-dau-]a-gi.htm] ? Khoản 1 Điều 3 Nghị định sô 95/2021/NĐ-CP sửa đổi, bé sung nghị định số 83/2014/ND-CP Việc được tự do lựa chọn ngành nghề đầu tư kinh doanh chính là nội dung quan trọng của quyén tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định, tức là các doanh nghiệp được quyển tự do kinh doanh ở các ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Đây chính là sự công nhận quyển quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh của tổ chức, cá nhân, tuy nhiên nhà nước vẫn có vai trò kiểm soát thông qua quy định các thủ tục hành chính cần thực hiện khi gia nhập thị trường. Kinh đoanh xăng dầu cũng là một trong những ngành kinh doanh theo hình thức nêu trên. Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP: “Kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt động: Xuất khẩu (xăng dầu, nguyên liệu sản xuất trong nước và xăng dau, nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu), nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyền khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu, sản xuất và pha chế xăng dầu; phân phối xăng dấu tại thị trường trong nước; dich vụ cho thuê kho, cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng đầu". Nội dung khái niệm về kinh doanh xăng dầu trong nghị đã định quy định tương đối đầy đủ và cụ thể.
Khái niệm Điều kiện kinh doanh xăng dau Điều kiện kinh doanh là những quy định của pháp luật nhằm xác lập các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là những yêu cầu, đòi hỏi, cần phải thực hiện khi tiến hành kinh doanh. Theo quan điểm ngôn ngữ, điều kiện kinh doanh dùng để chỉ những thành tố, yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh; là những yêu cầu, đòi hỏi cần đáp ứng trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh. Trong khoa học pháp lí, khái niệm về điều kiện kinh doanh được hiểu tương đối thống nhất. Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: “Điểu kiện kinh doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyên tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thé hóa bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể”.
Trong đó, hành vi hành chính có thể biểu hiện dưới dạng nhiều hình thức khác nhau, có thể một số dạng biểu hiện như thông qua một văn bản pháp quy ấn định những hạn chế cho người kinh doanh, thông qua hành vi cấp phép chấp thuận hoặc từ chối của cơ quan hành chính, thông qua hành vi giám sát của cơ quan hành chính về việc tuân thủ diéu kiện kinh doanh. Về phía chủ thể kinh đoanh, điều kiện kinh doanh được hiểu là những tiêu chuẩn mà chủ thể kinh doanh phải tuân thủ, đáp ứng trong quá trình hoạt động, chịu sự giám sát, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thâm quyền. LĐT 2020 không đưa ra khái niệm về điều kiện kinh doanh mà chỉ ghi nhận về nhóm đối tượng được gọi là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 7. như sau: “Ngành, nghề đâu tu kinh doanh có diéu kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì ly do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng ”.
Dựa trên các phân tích ở trên, có thé hiểu rằng điều kiện kinh đoanh chính là những quy định của Nhà nước về các yêu cầu, điều kiện mà các chủ thể kinh doanh cần phải đáp ứng khi kinh đoanh trong những ngành, nghề cụ thể. Những quy định này được thé hiện dưới những hình thức cụ thé. Xăng dau là mặt hàng có vai trò chiến lược, thiết yếu đối với cuộc sống xã hội, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và an ninh, quốc phòng của đất nước. Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Không chỉ có ảnh hưởng trong nước, xăng dầu còn chịu tác động từ các biến động về kinh tế và chính trị trên thé giới. Với những đặc điểm riêng biệt, xăng dầu được xếp vào danh mục hàng hóa thuộc diện kinh doanh có diéu kiện. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư năm 2020: “Ngành, nghề đầu tu kinh doanh có diéu kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đâu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng diéu kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, > Phạm Duy Nghia, Giáo trình Luật kinh tế. Tập 1: Luật Doanh nghiệp (Tình huống — Phân tích — Binh luận), Nxb.
Dai học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006, tr 23,24 an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của công đồng”. Cùng với đó là danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Sự đầu tư kinh doanh có điều kiện được hiểu là hoạt động đầu tư kinh doanh vào những ngành, nghề mà pháp luật quy định phải đáp ứng các điều kiện nhất định mới được thực hiện. Danh mục này bao gồm 227 ngành, nghề kinh đoanh có điều kiện.
Các ngành, nghề này phải dam bảo các điều kiện kinh doanh được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên. Từ việc giải thích các khái niệm nêu trên, có thể hiểu điều kiện kinh đoanh xăng dầu là những quy định của pháp luật mà chủ thể kinh doanh xăng dầu trước và trong quá trình kinh đoanh phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đã được quy định và cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật có liên quan. Những quy định này có tính bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp là chủ thé kinh doanh khi muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh xăng dầu. Theo quy định của pháp luật, ta thấy điều kiện để kinh doanh xăng dầu bao gồm các nhóm sau: Điều kiện đối với chủ thể kinh doanh xăng dầu; Điều kiện về hình thức và địa điểm kinh doanh, vốn trong kinh doanh xăng dầu, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu, yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ chuyên môn, điều kiện đối với các hoạt động kinh doanh xăng dầu.
Khái quát pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu 1. Khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu Pháp luật là tập hợp những chuẩn mực xử sự, đo Nhà nước ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền và được thi hành cưỡng chế bằng các biện pháp của Nhà nước. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội sẽ có một kiểu Nhà nước và loại pháp luật tương ứng. Pháp luật không phải là sản phẩm của lí trí hay bản chất tự nhiên phi giai cấp của con người như thuyết pháp luật tự nhiên quan niệm.
Pháp luật, như Các Mác và Ăng-ghen chỉ ra, chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước. Bản chất của pháp luật thê hiện ở tính giai cấp của Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng có tính xã hội, 10 bởi vì ở một mức độ nhất định, nó phải thé hiện và bảo dam những yêu cầu chung của xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trường. Về phương điện này, pháp luật xã hội chủ nghĩa thống nhất được tính giai cấp và tính xã hội.
Pháp luật là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội. Nó được quyết định bởi cơ sở hạ tầng, nhưng lại có tác động ngược lại đến cơ sở hạ tang. Nếu pháp luật phản ánh đúng các quy luật vận động và phát triển của xã hội, đặc biệt là các quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó.
Trong lịch sử, bất cứ giai cấp nắm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện đường lối, chính sách của mình. Pháp luật trở thành hình thức biểu hiện trực tiếp, tập trung chính trị của giai cấp cầm quyền, là công cụ đắc lực giúp Nhà nước thực hiện các yêu cầu, mục đích, nội dung chính tri. Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy định về hành vi được Nhà nước ban hành và bảo đảm thi hành. Nó thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyên trong xã hội, có vai trò điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Hệ thống quy định về hành vi này phải thống nhất, không được mâu thuẫn, mơ hồ hay khó hiểu, phải được Nhà nước ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và có tên gọi phù hợp.